🌿 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Định hình phát triển làng nghề giai đoạn mới

nongnghiepmoitruong.vn
Định hình phát triển làng nghề giai đoạn mới

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang lấy ý kiến dự thảo Nghị định quy định về phát triển ngành nghề nông thôn và làng nghề bền vững.

Dự thảo Nghị định quy định các nội dung về phân loại, tổ chức sản xuất và phát triển ngành nghề nông thôn; phát triển, công nhận, quản lý và thu hồi danh hiệu làng nghề; bảo tồn nghề truyền thống, nghệ nhân và truyền nghề; chính sách hỗ trợ phát triển bền vững; chuyển đổi số và quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Đối tượng áp dụng bao gồm các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình trực tiếp sản xuất kinh doanh ngành nghề nông thôn; các tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ hỗ trợ phát triển ngành nghề; cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan. 6 nhóm ngành nghề nông thôn Về phân nhóm, ngành nghề nông thôn được chia thành 6 nhóm chính, bao gồm: Nhóm chế biến sản phẩm nông, lâm, thủy sản và các sản phẩm từ nông nghiệp; Nhóm sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ, truyền thống và các sản phẩm sáng tạo; Nhóm sản xuất các sản phẩm gia dụng và sản phẩm tiêu dùng phục vụ đời sống; Nhóm làm vườn, sản xuất sinh vật cảnh, sản phẩm sinh thái và các hoạt động cảnh quan môi trường; Nhóm sản xuất muối và các sản phẩm từ muối; Nhóm dịch vụ phục vụ phát triển ngành nghề nông thôn. Hoạt động phát triển được tổ chức theo chuỗi giá trị nhằm nâng cao giá trị gia tăng, đồng thời khuyến khích hình thành tổ chức trung tâm chuỗi để điều phối cung ứng nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm. Không gian phát triển làng nghề được sắp xếp hài hòa giữa sản xuất, bảo vệ môi trường và gìn giữ bản sắc văn hóa, gắn kết với du lịch nông thôn và xây dựng điểm đến trải nghiệm. Dự thảo nêu rõ không thực hiện di dời cơ học, đồng loạt đối với các cơ sở ngành nghề nông thôn; việc di dời phải căn cứ vào đặc điểm ngành nghề, mức độ tác động môi trường và yêu cầu bảo tồn. Tiêu chí công nhận nghề truyền thống Nghề được công nhận là nghề truyền thống khi đã được hình thành tại địa phương từ 50 năm trở lên, có kỹ năng và sản phẩm mang giá trị văn hóa, lịch sử đặc trưng. Đối với làng nghề, tối thiểu có 20% số hộ tham gia hoặc giá trị sản xuất chiếm ít nhất 50% tổng giá trị sản xuất của cộng đồng; hoạt động ổn định 2 năm và đáp ứng các điều kiện bảo vệ môi trường Có tổ chức đại diện hoặc hình thức liên kết sản xuất phù hợp như hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp, hội, hiệp hội hoặc các hình thức tổ chức khác theo quy định của pháp luật. Riêng làng nghề trong khu vực đô thị phải đáp ứng thêm yêu cầu về phòng cháy chữa cháy, kiểm soát tiếng ồn và phù hợp quy hoạch đô thị. Có hình thức tổ chức không gian phù hợp để trưng bày, giới thiệu sản phẩm hoặc kết hợp phát triển dịch vụ, du lịch gắn với bảo tồn giá trị nghề. Làng nghề truyền thống phải đáp ứng các tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo quy định tại Nghị định này. Nhà nước cũng chú trọng tôn vinh vai trò của nghệ nhân - lực lượng nòng cốt trong gìn giữ tri thức nghề. Cá nhân được xét công nhận danh hiệu Nghệ nhân khi có ít nhất 10 năm kinh nghiệm, có kỹ năng nghề thành thạo, sáng tạo và có đóng góp trong việc truyền dạy cho thế hệ kế cận. Danh hiệu này do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công nhận dựa trên thang điểm đánh giá khách quan về kỹ năng, giá trị sản phẩm, uy tín xã hội và khả năng lan tỏa nghề. Hỗ trợ chi phí phát triển sản phẩm sáng tạo Hệ thống chính sách hỗ trợ trong dự thảo tập trung vào các nội dung đặc thù như: đổi mới sáng tạo, phát triển vùng nguyên liệu bản địa, chuyển đổi số và xử lý môi trường làng nghề. Mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước thông thường không vượt quá 70% tổng chi phí hợp lệ của dự án. Đặc biệt, dự thảo đề xuất Chương trình phát triển thương hiệu quốc gia đối với sản phẩm ngành nghề nông thôn và xây dựng Bản đồ số làng nghề Việt Nam để thực hiện quảng bá, truy xuất nguồn gốc và kết nối thị trường trong nước cũng như quốc tế. Các tổ chức, cá nhân than gia thiết kế, sáng tạo và phát triển sản phẩm trong lĩnh vực ngành nghề nông thôn được xem xét hỗ trợ. Trong đó, hỗ trợ phát triển sản phẩm tối đa 300 triệu đồng/bộ sản phẩm, bao gồm thiết kế kiểu dáng, bao bì và bộ nhận diện thương hiệu; hỗ trợ 100% chi phí đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ tại Việt Nam và tối đa 50% chi phí tại nước ngoài. Nhà nước cũng hỗ trợ toàn bộ chi phí đánh giá và cấp chứng nhận lần đầu đối với tiêu chuẩn, chứng nhận quốc tế; hỗ trợ ứng dụng vật liệu mới, vật liệu tái chế không quá 1 tỷ đồng/dự án. Duy trì danh hiệu với các làng nghề đã được công nhận Theo dự thảo Nghị định, các nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống đã được công nhận theo quy định tại Nghị định số 52/2018/NĐ-CP trước ngày Nghị định này có hiệu lực tiếp tục được duy trì danh hiệu và hưởng các chính sách ưu đãi hiện hành. Trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực, các làng nghề nêu trên có trách nhiệm: Cập nhật dữ liệu cơ sở lên Bản đồ số làng nghề Việt Nam; rà soát và hoàn thiện phương án bảo vệ môi trường, lộ trình chuyển đổi xanh để đáp ứng các tiêu chuẩn tích hợp mới của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Đối với hồ sơ đề nghị công nhận đã gửi đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng chưa có quyết định công nhận trước ngày nghị định có hiệu lực sẽ thực hiện theo quy định của Nghị định này.