Đồng bằng sông Cửu Long chuyển mạnh tư duy điều tiết nguồn nước
nongnghiepmoitruong.vn

Nhiều công trình thủy lợi quy mô lớn được thúc đẩy đầu tư tại vùng ĐBSCL nhằm chủ động kiểm soát xâm nhập mặn, bảo vệ nguồn nước và thích ứng biến đổi khí hậu.
Chiều 8/5, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng cùng đoàn công tác của Bộ đã khảo sát, đánh giá công trình cống âu Nguyễn Tấn Thành tại xã Kim Sơn, tỉnh Đồng Tháp.
Đây được xem là một trong những công trình thủy lợi trọng điểm, mở ra hướng tiếp cận mới trong điều tiết nguồn nước cho toàn vùng ĐBSCL.
Sau hơn một năm vận hành, công trình phát huy hiệu quả rõ nét trong kiểm soát xâm nhập mặn, bảo vệ nguồn nước ngọt phục vụ sản xuất và sinh hoạt.
Theo Ban Quản lý dự án Thủy lợi 10, công trình được khởi công năm 2022, đưa vào vận hành từ tháng 11/2024 với tổng vốn đầu tư khoảng 460 tỷ đồng. Cống có khẩu độ rộng 40m, tổng chiều rộng thông nước 52m, bao gồm âu thuyền rộng 12m, thuộc nhóm công trình có quy mô lớn hàng đầu cả nước hiện nay.
Công trình có nhiệm vụ kiểm soát triều cường, ngăn mặn, trữ ngọt cho vùng sản xuất khoảng 12.580ha, đồng thời bảo đảm nguồn nước sinh hoạt cho khoảng 1,4 triệu người dân.
Đại diện Ban Quản lý dự án cho biết, ngay trong giai đoạn thi công, công trình đã hỗ trợ địa phương kiểm soát mặn hiệu quả, giúp tiết kiệm khoảng 17 tỷ đồng mỗi năm do không còn phải đắp đập tạm trên các tuyến kênh như trước.
Trong mùa khô 2025-2026, khi xâm nhập mặn diễn biến phức tạp, công trình tiếp tục vận hành ổn định, góp phần bảo vệ an toàn nguồn nước ngọt cho vùng nội đồng.
Theo Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Tiền Giang, từ khi cống âu đi vào hoạt động, địa phương cũng không còn phải chi khoảng 50 tỷ đồng mỗi năm để đắp đập tạm ngăn mặn; các tình huống vận chuyển nước ngọt cứu trợ khẩn cấp trong mùa hạn mặn cơ bản không còn tái diễn.
Đánh giá về hiệu quả công trình, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho rằng, cống âu Nguyễn Tấn Thành đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý nguồn nước ở ĐBSCL, từ “ngăn mặn giữ ngọt” sang “điều tiết mặn - ngọt” linh hoạt, phục vụ đa mục tiêu phát triển.
Công trình không chỉ bảo vệ vùng chuyên canh cây ăn trái mà còn tạo điều kiện chủ động điều tiết nguồn nước phục vụ nuôi trồng thủy sản khi cần thiết.
Phát biểu tại buổi khảo sát, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh, cần nhìn nhận cống âu Nguyễn Tấn Thành không chỉ là một công trình thủy lợi đơn lẻ mà là mô hình hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu cho toàn vùng ĐBSCL. Bộ trưởng yêu cầu nhanh chóng tổ chức đánh giá toàn diện, thực chất hiệu quả công trình trên các mặt kinh tế, kỹ thuật, môi trường, địa chất, nguồn nước và hệ sinh thái.
Theo Bộ trưởng, giá trị của công trình không chỉ nằm ở khả năng kiểm soát mặn hay tiết kiệm chi phí ngân sách mà còn thể hiện qua tác động tích cực đến môi trường sinh thái. Việc nhiều loài chim tự nhiên như cò, vạc quay trở lại khu vực nội đồng được xem là tín hiệu cho thấy hệ sinh thái đang từng bước phục hồi.
Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng cũng nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy ứng phó ngắn hạn sang thích ứng chủ động với biến đổi khí hậu thông qua đầu tư hạ tầng thủy lợi hiện đại; phân cấp mạnh hơn cho địa phương trong triển khai các dự án thủy lợi bằng việc giao trực tiếp nguồn vốn để chủ động tổ chức thực hiện.
Cùng ngày, đoàn công tác của Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục khảo sát vị trí chuẩn bị đầu tư xây dựng cống âu thuyền An Hóa tại xã Giao Long, tỉnh Vĩnh Long. Theo địa phương, dự án thuộc Chương trình Quản lý nước Bến Tre sử dụng nguồn vốn ODA của Chính phủ Nhật Bản, với tổng mức đầu tư hơn 7.578 tỷ đồng.
Dự án gồm nhiều hạng mục lớn như 4 cống âu thuyền, 4 cống bê tông cốt thép và một trạm bơm điện nhằm kiểm soát triều cường, ứng phó nước biển dâng, kiểm soát xâm nhập mặn và tiêu thoát nước cho hơn 204.000ha diện tích tự nhiên.
Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng yêu cầu các đơn vị liên quan tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị đầu tư để sớm khởi công công trình, đáp ứng nhu cầu phát triển hạ tầng thủy lợi và bảo đảm an toàn nguồn nước cho người dân vùng ĐBSCL trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp.