Dữ liệu, minh bạch và thương hiệu: ‘Chìa khóa’ nâng tầm nông sản Việt
nongnghiepmoitruong.vn

Khi thị trường quốc tế siết tiêu chuẩn, nông nghiệp Việt Nam buộc chuyển từ tư duy sản lượng sang cạnh tranh bằng dữ liệu, minh bạch và thương hiệu quốc gia.
Thông điệp này được nhấn mạnh tại “Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản đảm bảo mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu năm 2026” do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức sáng 8/5 tại TP.HCM, dưới sự chủ trì và chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng.
“Không thể đi xa nếu thiếu thương hiệu và minh bạch”
Năm 2026, ngành Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt khoảng 73-74 tỷ USD. Đây là mục tiêu đầy tham vọng trong bối cảnh thị trường thế giới còn nhiều biến động, chi phí logistics tăng cao, cạnh tranh ngày càng gay gắt và các hàng rào kỹ thuật liên tục được nâng lên.
Tại hội nghị, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng cho rằng, phát triển xuất khẩu nông lâm thủy sản không thể chỉ nhìn dưới góc độ thương mại, mà phải được xem là quá trình tái cấu trúc toàn diện chuỗi giá trị nông nghiệp. Từ sản xuất, chế biến, logistics cho tới truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn môi trường và xây dựng thương hiệu đều phải thay đổi theo hướng hiện đại, minh bạch và bền vững hơn.
Trong bối cảnh nhiều quốc gia nhập khẩu đang áp dụng các tiêu chuẩn khắt khe liên quan đến phát thải carbon, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc, nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn đã trở thành yêu cầu bắt buộc nếu nông sản Việt muốn giữ thị phần và nâng cao giá trị.
TS Nguyễn Thị Hồng Minh, Chủ tịch Hiệp hội Thực phẩm minh bạch AFT nêu thực tế: rất nhiều nông sản Việt có chất lượng tốt nhưng vẫn chưa được “định danh” đúng giá trị trên thị trường quốc tế.
Theo bà, không ít sản phẩm của Việt Nam vẫn đang xuất khẩu dưới thương hiệu nước ngoài hoặc tham gia ở khâu nguyên liệu với giá trị gia tăng thấp. Trong khi đó, nhiều quốc gia đã rất thành công trong việc xây dựng thương hiệu quốc gia cho nông sản. “New Zealand gắn với kiwi, Na Uy gắn với cá hồi, còn Việt Nam dù sở hữu nhiều sản phẩm nổi bật nhưng vẫn thiếu một hệ sinh thái thương hiệu đủ mạnh để định vị trên thị trường toàn cầu”, TS Hồng Minh nêu.
Hơn nữa, thương hiệu nông sản không thể chỉ là logo hay bao bì, mà cần được xây dựng bằng cả hệ sinh thái gồm tiêu chuẩn chất lượng, quy tắc ứng xử, truyền thông, truy xuất nguồn gốc và sự đồng hành giữa Nhà nước với doanh nghiệp. “Muốn nâng giá trị nông sản Việt thì phải tạo được niềm tin. Mà niềm tin ngày nay được xây dựng bằng minh bạch”, Chủ tịch Hiệp hội Thực phẩm minh bạch AFT nhấn mạnh.
Trong khi nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đã đáp ứng khá tốt các tiêu chuẩn quốc tế, thị trường nội địa vẫn tồn tại khoảng trống lớn về kiểm soát và chuẩn hóa an toàn thực phẩm. Điều này không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng mà còn tác động đến hình ảnh chung của nông sản Việt Nam.
Do đó, cần có lộ trình đào tạo, chuẩn hóa và nâng cao nhận thức đồng bộ cho toàn hệ sinh thái sản xuất - kinh doanh thực phẩm, từ nông dân, hợp tác xã tới doanh nghiệp và đơn vị phân phối.
Dữ liệu sẽ quyết định năng lực cạnh tranh mới
Nếu câu chuyện thương hiệu được nhìn như “phần nổi” của giá trị nông sản, thì dữ liệu và truy xuất nguồn gốc lại chính là nền móng phía dưới của chuỗi cạnh tranh mới.
Tại hội nghị, nhiều hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp cho rằng trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng yêu cầu minh bạch hóa toàn bộ chuỗi sản xuất, ngành nông nghiệp Việt Nam cần sớm xây dựng hạ tầng dữ liệu quốc gia đồng bộ cho nông sản.
Ông Nguyễn Công Tình, Công ty Cổ phần Nông Dân Phát (tỉnh Lâm Đồng) nêu kiến nghị liên quan đến dữ liệu nông nghiệp, đổi mới sáng tạo và đào tạo nhân lực cho ngành. Theo ông Tình, nông sản Việt Nam hiện có cơ hội lớn để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, nhưng cũng đang chịu áp lực ngày càng cao về tiêu chuẩn xanh, minh bạch dữ liệu và kiểm soát chất lượng.
Thực tế cho thấy, dữ liệu nông nghiệp vẫn còn phân tán, thiếu liên thông giữa các địa phương, đơn vị và ngành hàng. Công tác quản lý mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc hay kiểm soát chất lượng ở nhiều nơi vẫn còn thủ công, thiếu đồng bộ.
“Trong bối cảnh các thị trường quốc tế ngày càng yêu cầu cao về minh bạch và tiêu chuẩn chất lượng, việc xây dựng một hạ tầng dữ liệu và truy xuất nguồn gốc nông sản quốc gia thống nhất là rất cần thiết”, ông Tình kiến nghị.
Theo ông, nếu dữ liệu được chuẩn hóa và kết nối đồng bộ sẽ giúp nâng cao tính minh bạch trong sản xuất và xuất khẩu, hỗ trợ quản lý vùng trồng hiệu quả hơn, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp và nông dân tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đây cũng là hướng đi mà nhiều doanh nghiệp đang nghiên cứu triển khai nhằm kết nối dữ liệu sản xuất, truy xuất nguồn gốc và liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp.
Nhiều hiệp hội, doanh nghiệp cũng đồng quan điểm, cho rằng dữ liệu còn liên quan trực tiếp tới uy tín quốc gia. Thời gian qua, Chính phủ đã chỉ đạo, các Bộ ngành và doanh nghiệp rất nỗ lực mở rộng thị trường và xây dựng hình ảnh cho nông sản Việt. Tuy nhiên, chỉ một số trường hợp gian lận mã số vùng trồng, vi phạm truy xuất nguồn gốc hay chất lượng không đảm bảo cũng có thể khiến cả ngành hàng bị ảnh hưởng.
“Bên cạnh hỗ trợ phát triển, cũng cần nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm và chế tài đủ mạnh để bảo vệ những doanh nghiệp và người nông dân làm đúng”, ông Tình nhấn mạnh.
Từ thực tiễn phát triển ngành, nhiều ý kiến tại Hội nghị cho rằng Chính phủ cần có cơ chế hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái startup nông nghiệp. Cụ thể, cần xây dựng các chính sách dài hạn nhằm khuyến khích doanh nghiệp lớn đồng hành cùng các mô hình đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực như chuyển đổi số, logistics, dữ liệu nông nghiệp, chế biến sâu hay tài chính chuỗi giá trị.
Yếu tố con người cũng được xem là nền tảng quyết định hiệu quả chuyển đổi của ngành nông nghiệp. Dữ liệu và công nghệ chỉ thực sự phát huy giá trị khi được vận hành bởi một thế hệ lao động nông nghiệp mới có tri thức, kỹ năng và tư duy thị trường.
Do đó, cần đẩy mạnh các chương trình đào tạo chuyên biệt cho nông nghiệp hiện đại, nhất là đào tạo về chuyển đổi số, quản trị chuỗi giá trị và các mô hình liên kết giữa nhà trường, doanh nghiệp với vùng sản xuất thực tế.