🌿 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Halal - “tấm vé” để nông sản Việt bước vào thị trường nghìn tỷ USD

Thời báo Tài chính Việt Nam
Halal - “tấm vé” để nông sản Việt bước vào thị trường nghìn tỷ USD

Halal - “tấm vé” để nông sản Việt bước vào thị trường nghìn tỷ USD

Halal - “tấm vé” để nông sản Việt bước vào thị trường nghìn tỷ USD Cơ hội từ thị trường hơn 8.000 tỷ USD Ngày 7/5, Văn phòng Thông báo và Điểm hỏi đáp quốc gia về Vệ sinh Dịch tễ và Kiểm dịch Động thực vật Việt Nam (Văn phòng SPS Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Cần Thơ tổ chức Hội nghị cập nhật các quy định về an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật (SPS) trong khuôn khổ Hiệp định VIFTA và CEPA (Israel và các Tiểu vương quốc Arab thống nhất). Hội nghị tổ chức theo hình thức trực tiếp và trực tuyến. Tại hội nghị, các chuyên gia và doanh nghiệp đều khẳng định quy mô thị trường Halal toàn cầu đã đạt quy mô hơn 8.000 tỷ USD và có thể chạm mốc 10.000 tỷ USD trước năm 2028 và tiếp tục tăng trưởng trên 10% mỗi năm, trong đó thực phẩm là lĩnh vực Việt Nam có lợi thế chiếm tỷ trọng lớn. Không còn là thị trường dành riêng cho các quốc gia Hồi giáo, Halal đang trở thành xu hướng tiêu dùng toàn cầu. Người tiêu dùng tại châu Âu, Australia hay Hoa Kỳ ngày càng ưu tiên các sản phẩm Halal bởi yêu cầu nghiêm ngặt về vệ sinh, truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm. Phó Vụ trưởng Vụ Trung Đông - Châu Phi (Bộ Ngoại giao) Nguyễn Thành Duy nhận định, khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Trung Đông và Bắc Phi tiếp tục là những thị trường trọng điểm nhờ quy mô dân số Hồi giáo lớn. Tuy nhiên, dư địa tăng trưởng không chỉ nằm ở các nước Hồi giáo mà còn mở rộng sang các nền kinh tế phát triển, nơi tiêu chuẩn Halal được xem như biểu tượng của chất lượng cao. Ông Ngô Xuân Nam - Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam cũng cho biết, quy mô cộng đồng Hồi giáo toàn cầu đã lên tới khoảng 2 tỷ người. Nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm Halal tiếp tục tăng mạnh, đặc biệt tại Đông Nam Á, Trung Đông và châu Phi - những khu vực đang có nhu cầu lớn đối với thực phẩm có nguồn gốc tự nhiên, an toàn và đáp ứng đồng thời tiêu chuẩn Halal cùng các quy định SPS. Trong khi đó, nhiều quốc gia nhập khẩu truyền thống đang đối mặt với gián đoạn nguồn cung do xung đột địa chính trị, tạo ra khoảng trống lớn cho các nhà cung cấp mới. Theo ông Ramlan Bin Osman - Giám đốc Trung tâm Chứng nhận Halal quốc gia, đây chính là “thời điểm vàng” để Việt Nam gia tăng hiện diện tại các thị trường Trung Đông, nhất là với các mặt hàng rau quả nhiệt đới, thủy sản và thực phẩm chế biến. Có năng lực sản xuất nhưng thiếu “tấm vé” vào thị trường Dù cơ hội rất lớn, mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt vào chuỗi giá trị Halal vẫn còn khá khiêm tốn. Ông Ngô Xuân Nam nhấn mạnh, mức độ tham gia của Việt Nam vào thị trường Halal còn chưa tương xứng với tiềm năng, số mặt hàng xuất khẩu còn hạn chế và nhiều địa phương vẫn chưa có sản phẩm xuất khẩu được chứng nhận Halal. Trong khi đó, các biện pháp SPS của thị trường nhập khẩu thường xuyên thay đổi và cập nhật. Đối với thị trường Halal, mức độ phức tạp còn cao hơn do ngoài yêu cầu về SPS còn cần đáp ứng các yêu cầu đặc thù liên quan đến nguyên liệu đầu vào, quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, tính phù hợp với luật Hồi giáo và cơ chế công nhận chứng nhận Halal giữa các quốc gia, tổ chức chứng nhận. Tại Cần Thơ trung tâm chế biến nông sản của Đồng bằng sông Cửu Long - đến cuối năm 2025 mới chỉ có 56 doanh nghiệp đạt chứng nhận Halal, chiếm chưa đầy 3% tổng số doanh nghiệp thực phẩm trên địa bàn. Nghịch lý nằm ở chỗ, nhiều doanh nghiệp vẫn xuất khẩu hàng hóa sang UAE, Saudi Arabia hay Indonesia với doanh thu hàng triệu USD mỗi năm nhưng phần lớn sản phẩm chưa được dán nhãn Halal chính thức. Theo bà Nguyễn Thị Thùy Nhi - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Cần Thơ, riêng xuất khẩu cá tra sang Trung Đông năm 2025 đã đạt hơn 330 triệu USD, chiếm khoảng 22% kim ngạch thủy sản của khu vực này. Tuy nhiên, chỉ khoảng 30% lô hàng có chứng nhận Halal đầy đủ. Chi cục trưởng Chi cục Chất lượng chế biến và Phát triển thị trường thành phố Cần Thơ Dương Hải Lâm thẳng thắn nhìn nhận, hàng hóa xuất khẩu rất nhiều nhưng nhãn Halal lại rất ít. Theo ông Dương Hải Lâm, việc thiếu chứng nhận khiến doanh nghiệp tự mất khoảng 10-15% giá trị gia tăng trên mỗi lô hàng xuất khẩu. Nhiều doanh nghiệp vẫn cho rằng Halal đơn giản chỉ là một con dấu chứng nhận gắn lên bao bì sản phẩm. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, Halal thực chất là một hệ thống tiêu chuẩn bao trùm toàn bộ chuỗi giá trị từ nguyên liệu đầu vào, quy trình sản xuất, bảo quản, logistics đến phương thức quản trị doanh nghiệp. Ông Ramlan Bin Osman cho rằng, quan niệm sai lầm phổ biến nhất của doanh nghiệp Việt là coi Halal chỉ là “chiếc vé” tiếp cận thị trường. Trong thực tế, tiêu chuẩn Halal đòi hỏi doanh nghiệp phải thay đổi toàn diện về hệ thống quản lý và kiểm soát chuỗi cung ứng. Khó khăn càng lớn hơn khi hiện nay không tồn tại một “chuẩn Halal toàn cầu”. Mỗi quốc gia lại có hệ thống tiêu chuẩn riêng và cơ chế công nhận khác nhau. Theo khuyến nghị của các chuyên gia, doanh nghiệp cần xác định rõ thị trường mục tiêu trước khi lựa chọn tổ chức chứng nhận phù hợp, thay vì chạy theo chi phí rẻ hoặc đơn vị quen thuộc. Chi phí cao, thiếu hệ sinh thái hỗ trợ Bên cạnh nhận thức, chi phí chứng nhận cũng là rào cản lớn khiến nhiều doanh nghiệp e ngại. Không giống nhiều tiêu chuẩn thông thường, chứng nhận Halal cần được đánh giá định kỳ với thời hạn hiệu lực chỉ từ 1 - 3 năm. Chi phí mời chuyên gia quốc tế, đánh giá nhà máy và duy trì hệ thống có thể lên tới hàng trăm triệu đồng. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, đây là áp lực đáng kể nếu chưa có đơn hàng chắc chắn từ thị trường Halal. Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải đối mặt với bài toán thiếu hệ sinh thái nguyên liệu đạt chuẩn. Để được cấp chứng nhận, không chỉ sản phẩm cuối cùng mà toàn bộ nguyên liệu đầu vào cũng phải đáp ứng yêu cầu Halal. Trong khi đó, Việt Nam hiện chưa hình thành được mạng lưới doanh nghiệp hỗ trợ lẫn nhau theo chuỗi Halal hoàn chỉnh. Nguồn nhân lực am hiểu tiêu chuẩn quốc tế và luật Hồi giáo cũng còn hạn chế. Theo bà Nguyễn Thị Ngọc Hằng - Giám đốc Marketing HCA Việt Nam, nhiều doanh nghiệp vẫn hiểu chưa đầy đủ về mối quan hệ giữa các tiêu chuẩn quản lý chất lượng. Không ít doanh nghiệp cho rằng đã có ISO 22000 hoặc HACCP thì không cần thêm Halal. Tuy nhiên, hai hệ thống này không thể thay thế cho nhau. “ISO 22000 tập trung kiểm soát nguy cơ gây hại cho sức khỏe, còn Halal điều chỉnh theo các nguyên tắc của luật Shariah. ISO là nền tảng cần thiết, còn Halal là điều kiện đủ để tiếp cận thị trường Hồi giáo” - bà Hằng nhấn mạnh. Áp lực thời gian và cuộc đua chuyển đổi Áp lực lớn nhất hiện nay nằm ở yếu tố thời gian. Theo TS. Ngô Xuân Nam, từ tháng 10/2026, Indonesia - quốc gia có hơn 230 triệu người Hồi giáo sẽ bắt buộc toàn bộ thực phẩm nhập khẩu phải có chứng nhận Halal. Doanh nghiệp không đáp ứng sẽ không được phép lưu thông hàng hóa tại thị trường này. Trong khi đó, quá trình xin chứng nhận thường kéo dài từ một đến hai tháng nếu hồ sơ đầy đủ, chưa kể thời gian hoàn thiện chuỗi cung ứng và điều chỉnh quy trình sản xuất. Điều này đồng nghĩa những doanh nghiệp chưa bắt đầu gần như đang bước vào “cuộc đua nước rút” nếu không muốn đánh mất thị trường. Ở chiều tích cực, Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể về chính sách. Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Tăng cường hợp tác quốc tế để xây dựng và phát triển ngành Halal Việt Nam đến năm 2030”. Đến nay, Việt Nam đã ký kết 18 biên bản ghi nhớ hợp tác Halal, thành lập Trung tâm Chứng nhận Halal quốc gia và xây dựng 7 tiêu chuẩn Halal quốc gia. Các hiệp định thương mại như ATIGA, VIFTA hay CEPA cũng mở ra cơ chế thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong xử lý các vấn đề kỹ thuật và SPS khi xuất khẩu. Về phía doanh nghiệp, đại diện Công ty TNHH Sumofood doanh nghiệp đã đạt chứng nhận Halal để xuất khẩu vào Indonesia cho biết sau khi có chứng nhận, sản phẩm của công ty đã tiếp cận được thêm nhiều thị trường như Australia, Pháp và Hoa Kỳ với mức giá cạnh tranh hơn. Tuy vậy, doanh nghiệp cũng kiến nghị cần sớm xây dựng một cổng thông tin tập trung về các doanh nghiệp đạt chuẩn Halal theo từng thị trường nhằm hỗ trợ kết nối giao thương quốc tế.