🌿 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Mất mùa vải thiều, Hải Phòng quyết tâm lấy chất lượng bù sản lượng

nongnghiepmoitruong.vn
Mất mùa vải thiều, Hải Phòng quyết tâm lấy chất lượng bù sản lượng

Sản lượng giảm mạnh buộc người trồng vải thiều chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng để giữ uy tín với bạn hàng, duy trì thị trường xuất khẩu.

Dồn lực cho giai đoạn quyết định Năm nay vải mất mùa, nông dân phải chăm chút cây vải rất kỹ để giữ trọn sản lượng và chất lượng quả, từ kỹ thuật giữ nước để quả không nứt, tỉa tán để quả đều màu đến lựa thời điểm phun thuốc để không gây dư lượng. Mỗi thao tác, mỗi quyết định trong vườn đều gắn với đích đến xa hơn, không chỉ bán được quả vải mà bán được với giá trị cao, bước qua những “cánh cửa hẹp” của các thị trường khó tính, vào được những thị trường ổn định và bền vững. Hiện nay, yêu cầu của thị trường xuất khẩu ngày càng nghiêm ngặt với những quy định khắt khe về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói… Nếu chất lượng quả vải được bảo đảm, giữ được niềm tin thị trường thì dù sản lượng có giảm, quả vải vẫn có thể “đi xa”. Theo bà Lương Thị Kiểm, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng, Thành phố đang dồn toàn lực cho giai đoạn quyết định từ nay tới cuối vụ để vừa giữ được chất lượng sản phẩm, vừa chuẩn bị kỹ lưỡng cho hành trình tiêu thụ và xuất khẩu vải tươi năm 2026. Các khâu từ sản xuất đến thị trường được kết nối thành một chuỗi chặt chẽ. Những hội nghị chuyên đề không chỉ bàn giải pháp mà còn là “lớp học” để người trồng, hợp tác xã và doanh nghiệp cùng nhìn lại những yêu cầu ngày càng khắt khe từ thị trường nhập khẩu. Từ quy định về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói đến truy xuất nguồn gốc, ghi chép nhật ký sản xuất…, tất cả được cụ thể hóa thành những việc làm rất nhỏ nhưng lại quyết định số phận của lô hàng khi ra cửa khẩu. Hoạt động xúc tiến thương mại cũng được khởi động sớm hơn thường lệ. Những cuộc kết nối, giới thiệu sản phẩm được mở ra không chỉ để tìm đầu ra mà còn để “đặt chỗ” cho quả vải Hải Phòng trên bản đồ tiêu thụ trong bối cảnh sản lượng giảm nhưng áp lực nâng giá trị lại tăng lên. Dẫu vậy theo bà Kiểm, phía sau những nỗ lực ấy vẫn còn không ít trăn trở. Có những vùng trồng đã được cấp mã số nhưng việc duy trì sau khi cấp chưa thực sự đồng đều. Có những hộ dân vẫn chưa quen với việc ghi chép, truy xuất. Ở khâu đóng gói, nhiều cơ sở hoạt động theo mùa vụ, thiếu hụt nhà xưởng, thiết bị và nhân lực khiến việc đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn kỹ thuật trở thành bài toán nan giải. Cùng với đó, áp lực càng lớn hơn khi mùa vải luôn đến dồn dập chỉ trong 1 - 2 tháng. Trà sớm và chính vụ gối nhau, sản lượng đổ về cùng lúc khiến cả chuỗi thu mua, vận chuyển, bảo quản phải căng mình trong thời gian ngắn. Trong khi đó, mỗi thị trường lại đặt ra quy định riêng về kiểm dịch, về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Những tiêu chuẩn không chỉ khác nhau mà còn thay đổi liên tục, đòi hỏi người sản xuất phải thích ứng gần như từng vụ. Bà Lương Thị Kiểm cũng cho rằng mặt hàng vải vẫn đang thiếu những lời giải căn cơ như chưa có biện pháp đủ hiệu quả để kéo dài thời gian chín trên cây, công nghệ bảo quản sau thu hoạch còn hạn chế. Vì thế, áp lực mùa vụ năm nào cũng lặp lại, dồn lên vai cả người trồng lẫn doanh nghiệp. Quản chặt vùng trồng và cơ sở đóng gói Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật nhìn nhận, một trong những điểm then chốt hiện nay là quản lý chặt chẽ vùng trồng và cơ sở đóng gói bởi điều này quyết định quả vải có thể bước ra thị trường quốc tế hay không. Hải Phòng là địa phương có nhiều kinh nghiệm trong tổ chức sản xuất vải xuất khẩu nhưng không được phép chủ quan. Nghị định số 38/2026/NĐ-CP quy định về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói vừa ban hành tuy không đặt ra những yêu cầu hoàn toàn mới song đã chuẩn hóa và chi tiết hóa rõ ràng hơn về quy trình kỹ thuật, hồ sơ, truy xuất nguồn gốc cũng như trách nhiệm của từng khâu trong chuỗi sản xuất. “Những việc trước đây đã làm nay phải làm chặt chẽ hơn, bài bản hơn và có căn cứ đầy đủ hơn. Các địa phương cần rà soát toàn bộ vùng trồng, cơ sở đóng gói ngay từ đầu vụ, hoàn thiện điều kiện kỹ thuật và hồ sơ trước khi bước vào cao điểm thu hoạch bởi trong bối cảnh hiện nay, nếu nước nhập khẩu bất ngờ yêu cầu kiểm tra, dù trực tiếp hay trực tuyến mà phía sản xuất chưa sẵn sàng, rủi ro bị động là rất lớn, kéo theo nguy cơ ách tắc xuất khẩu”, bà Hương đặc biệt lưu ý. Về an toàn thực phẩm, bà Hương đánh giá cao cách làm của Hải Phòng trong nhiều năm qua khi duy trì được hệ thống giám sát khá bài bản và chưa ghi nhận phản hồi bất lợi nào từ các thị trường nhập khẩu. Tuy nhiên cần phải tiếp tục đảm bảo các điều kiện về an toàn thực phẩm trong bối cảnh tiêu chuẩn quốc tế ngày càng siết chặt. “Nhiều thị trường lớn như EU hay Nhật Bản liên tục cập nhật danh mục hoạt chất cấm và hạ ngưỡng dư lượng thuốc bảo vệ thực vật xuống mức rất khắt khe. Điều này đòi hỏi cơ quan chuyên môn không chỉ dừng ở khuyến cáo chung mà phải đi trước một bước, cập nhật kịp thời và hướng dẫn nông dân sử dụng thuốc theo nguyên tắc ‘4 đúng’, đảm bảo cả về hiệu quả phòng trừ sâu bệnh hại lẫn an toàn sản phẩm”, bà Nguyễn Thị Thu Hương nhấn mạnh. Một điểm cũng được bà Hương khuyến nghị là cách tiếp cận theo từng thị trường. Mỗi vùng trồng hướng tới một thị trường mục tiêu cần có bộ hướng dẫn kỹ thuật riêng ngay từ đầu vụ. Thị trường nào cấm hoạt chất nào, yêu cầu ra sao phải được thông tin sớm để người dân chủ động điều chỉnh thay vì đến sát ngày thu hoạch mới phát hiện rủi ro. Đó là cách làm từ gốc, không phải chạy theo xử lý ở ngọn. Bà Hương cũng thẳng thắn nhìn nhận tiêu thụ là mắt xích quyết định giá trị cuối cùng của cả chuỗi. Một mùa vải dù chăm sóc tốt đến đâu cũng sẽ không trọn vẹn nếu thiếu sự kết nối thị trường. Vì vậy, bên cạnh việc giữ chất lượng, các địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng đầu ra, đồng thời gắn việc tiêu thụ với quảng bá hình ảnh vùng trồng. Mỗi quả vải không chỉ mang giá trị kinh tế mà còn chứa đựng câu chuyện văn hóa, bản sắc địa phương. TP Hải Phòng hiện có 68 vùng trồng vải được cấp 198 mã số xuất khẩu với tổng diện tích khoảng 1.125ha. Bình quân mỗi vụ, sản lượng vải phục vụ các thị trường cao cấp, khó tính như Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU… đạt khoảng 4.000 - 5.000 tấn. Ở khâu sau thu hoạch, Thành phố có 7 cơ sở đóng gói vải được cấp 16 mã số xuất khẩu với công suất xử lý khoảng 650 tấn mỗi ngày, cơ bản đáp ứng nhu cầu sơ chế, đóng gói phục vụ xuất khẩu trong mùa vụ.