Nghe những căn nhà cổ kể chuyện: [Bài 1] Hưng thịnh nhờ nông nghiệp
nongnghiepmoitruong.vn
![Nghe những căn nhà cổ kể chuyện: [Bài 1] Hưng thịnh nhờ nông nghiệp](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/800w/files/hainv72/2026/05/10/5653-nha-nongnghiep-165641.jpeg)
Dòng họ Quách ở Thuận Nghĩa còn lưu giữ 4 căn nhà cổ trên 100 năm tuổi, mỗi căn nhà là một câu chuyện về một thời hưng thịnh của những bậc tiền nhân...
Khởi nghiệp từ giỏ cao đơn hoàn tán
Làng Thuận Nghĩa nằm ven sông Kôn thuộc xã Tây Sơn (Gia Lai) là một không gian yên bình hiếm có với những vườn cây xanh thẫm, những ruộng rau xanh mướt quanh năm, và màu xanh ngọc biếc của dòng nước sông Kôn ngày yên ả. Vùng đất này được các bậc tiền nhân của dòng họ Quách phát hiện tiềm năng, tạo mãi cách đây hàng trăm năm để phát triển nghề nông nghiệp.
Theo gia phả dòng họ Quách do cố thi sĩ Quách Tấn (1910-1992) - Tiến sĩ Văn chương, Giáo sư thỉnh giảng Đại học Văn khoa Sài Gòn, cháu đời thứ 9 của dòng họ Quách chấp bút, dòng họ này có nguồn gốc từ Trung Quốc. Cao Thủy tổ của dòng họ Quách là Phần Dương Vương Quách Tử Nghi sinh năm 697 tại huyện Hoa Châu, tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc), ông là nhà quân sự và chính trị gia đời Đường. Hậu duệ dòng họ Quách di cư sang Việt Nam theo dòng người Minh Hương. Người họ Quách sang Việt Nam đầu tiên là ông Quách Tịnh Nương. Nơi định cư đầu tiên của ông Quách Tịnh Nương là tại làng Phúc Đáo (còn gọi là Cà Đáo), xã Bình Hòa, huyện Phù Ly, phủ Quy Nhơn. Sau đó di chuyển xuống làng An Thái, huyện Tuy Viễn xưa (nay là phường Bình Định, Gia Lai) và định cư tại đây.
Tại An Thái, ông Quách Tịnh Nương khởi nghiệp bằng nghề bán thuốc cao đơn hoàn tán. Khi xưa, An Thái là thị tứ nằm ven sông Kôn, có đường thủy, đường bộ nối liền từ biển đến nguồn. Chợ An Thái là một trong những ngôi chợ lớn nhất tỉnh Bình Định xưa, thương nhân khắp nơi trong tỉnh tập trung về đây mua bán rất sầm uất, xung quanh chợ có nhà cửa khang trang.
Khi xuống An Thái lập nghiệp, sơ tổ của dòng họ Quách là ông Quách Tịnh Nương gia nhập làng Minh Hương, ngôi làng được chính quyền thời ấy lập riêng dành cho những người Trung Quốc không thần phục nhà Mãn Thanh, di cư sang Việt Nam định cư và nhập Việt tịch. Làng có dân nhưng không có đất canh tác, trong khi tài sản của ông Quách Tịnh Nương mang từ Trung Quốc sang Việt Nam chỉ có một chiếc giỏ mây đựng cao đơn hoàn tán (những loại thuốc đông y được bào chế sẵn thành cao, tễ, viên, bột). Ông Quách Tịnh Nương cùng chiếc giỏ mây rong ruổi khắp các chợ ở huyện Tuy Viễn và Phù Ly bán thuốc đông y để kiếm kế sinh nhai.
Trên những chặng đường rong ruổi bán cao đơn hoàn tán, ông Quách Tịnh Nương gặp được bà Trương Thị Bao, người ở làng Kiên Thạnh (làng nằm dưới chân ngọn núi Hương Sơn về phía Bắc sông Kôn), một thôn nữ vừa mạnh mẽ vừa đoan trang lại rành nghề mua bán, họ nên duyên vợ chồng. Sau khi có gia đình, nhờ bà Trương Thị Bao có duyên mua bán nên giỏ cao đơn hoàn tán của vợ chồng ông Quách Tịnh Nương mang tiền về đầy hầu bao, phát đạt gấp mấy lần lúc ông chưa vợ. Sau khi tích lũy được số vốn kha khá, ông Quách Tịnh Nương sắm cho vợ gánh hàng xén cùng mình đi bán rong. Với gánh hàng xén, bà Trương Thị Bao như “cá gặp nước”, bà lập tức phát huy hết năng khiếu mua bán của mình. Nhờ đó, chỉ mấy năm sau, gánh hàng xén của bà đã khuếch trương thành hiệu buôn tại chợ An Thái.
Trong nghề buôn bán, vợ chồng ông Quách Tịnh Nương không đặt nặng chuyện lời lãi mà lấy chữ “tâm” làm đầu. Đến tháng Chạp hàng năm, trong khi các tiệm buôn khác đều lên giá và không bán nợ cho người tiêu dùng với lý do “năm hết Tết đến”, nhưng vợ chồng ông Quách Tịnh Nương thì nghĩ rằng “cám tháng Giêng, tiền tháng Chạp”, nhà người ta dù có nghèo đến mấy cũng ráng sắm vật dụng, lương thực ăn Tết cho tươm tất. Không mua nợ được ắt sẽ vay nóng “một vốn bốn lời” để sắm sanh cái Tết cho con cái vui xuân. Do đó, vợ chồng Quách Tịnh Nương mở lòng hào phóng bán nợ cho bạn hàng quen những mặt hàng cần thiết với giá như ngày thường, tiền mua nợ sau mùa thu hoạch lúa đông xuân mới trả.
Hiệu buôn và cái lệ mua bán chịu, “đặt cái tâm làm đầu” của vợ chồng ông Quách Tịnh Nương được người con là ông Quách Ứng Nương - nhị tổ của dòng họ Quách - kế thừa, duy trì, nên chuyện mua bán ngày càng phát đạt.
Bén duyên với nông nghiệp
Đến đời tam tổ dòng học Quách là ông Quách Sum Nương cũng tiếp tục việc mua bán nhưng không khuếch trương thêm hiệu buôn, mà tiền lời từ thương nghiệp, ông dành hết để tạo mãi ruộng đất.
Bước chuyển từ thương nghiệp sang nông nghiệp của ông Quách Sum Nương đã khơi mạch nguồn yêu nghề nông trong lòng người kế nghiệp dòng họ Quách là ông Quách Hội Đồng - tứ tổ dòng họ Quách. Dòng họ Quách có xuất xứ từ Trung Hoa nên thông hiểu Hán tự, nhưng 3 đời trước chỉ học đủ dùng để phục vụ việc mua bán, đến đời tứ tổ Quách Hội Đồng, việc học mới được đặt nặng.
Ông Quách Hội Đồng rất ham học, ham đọc sách, ông không tiếc tiền mua những bộ sách quý. Sách đối với ông Quách Hội Đồng là tài sản. Có những bộ sách ông gửi tiền về tận Trung Quốc nhờ người thân mua dùm. Ông đọc cả sách thiên văn, địa lý và sách tướng số.
Ông Quách Hội Đồng vốn người phong nhã, ưa sơn thủy, thích điền viên, nên sự sầm uất của chợ An Thái khiến ông cảm thấy bức bối. Trong một dịp ngao du sơn thủy đến vùng đất Thuận Nghĩa, vùng đất yên bình này lập tức khơi dậy trong ông Quách Hội Đồng ý nguyện khởi nghiệp từ nông nghiệp, ông liền về sang tiệm buôn tại chợ An Thái, đưa gia đình đến lập nghiệp tại Thuận Nghĩa.
Địa thế của làng Thuận Nghĩa khi ấy chia thành 3 vùng rõ rệt; vùng giữa là dãy ruộng rộc phì nhiêu, có con kênh Văn Phong chạy từ trên xuống; vùng phía Bắc gò đống ngổn ngang và ruộng gieo ăn nước trời tiếp giáp với đất thổ, nhà dân thưa thớt; vùng phía Nam chạy ven sông Kôn, dân cư đông đúc, đất đai mầu mỡ, vườn tiếp nối đất soi, đất soi tiếp nối ruộng 4 mùa tươi mát màu xanh của cây trái, hoa màu.
Định cư ở Thuận Nghĩa, ông Quách Hội Đồng “chia tay” hẳn với nghề mua bán và theo nghề nông nghiệp. Nhờ đọc bộ sách “Đào công trí phú”, tứ tổ Quách Hội Đồng thẩm thấu được bí quyết nuôi tằm, nên tằm của nhà họ Quách nuôi chẳng mấy khi hư, kén ít khi bị tang, lép. Nhờ vậy, nghề trồng dâu nuôi tằm của nhà họ Quách ngày càng thịnh vượng. Kén bán không hết, ông Quách Hội Đồng phải xây dựng lò ươm tơ. Tơ nhà họ Quách ươm rất khéo, “tiếng lành đồn xa”, thương lái khắp nơi tìm về mua. Nghề nông tang đã khiến tiền vào nhà họ Quách như nước, năm nào ông Quách Hội Đồng cũng mua thêm ruộng đất ở khắp nơi như: Vĩnh Thạnh, Trinh Tường, Phú Phong, Lai Nghi, Dõng Hòa...
Khi ấy, ruộng đất ở làng Thuận Nghĩa hàng năm thường bị nước sông Kôn làm xói lở. Những gia đình có ruộng ven sông Kôn đều muốn bán để đi nơi khác làm ăn, tránh thiên tai, ông Quách Hội Đồng bỏ tiền ra mua tất, mua theo giá thị trường chứ không mua ép giá nên người bán ùn ùn. Thấy vậy, người làng “lời ra tiếng vào” rằng ông Quách Hội Đồng “dại của”. Vợ ông Quách Hội Đồng là bà Lê Thị Duệ cũng “xót của” nên có ý phàn nàn. Ông Quách Hội Đồng liền trấn an vợ: “Tiền của cất trong lẫm mà trời không thương cũng giữ không được. Bây giờ sông “nuốt” ruộng, biết đâu sau này sông bồi thành ruộng thì mình càng khấm khá”.
Chỉ 10 năm sau, lời trấn an vợ của ông Quách Hội Đồng ứng nghiệm, sau một trận lụt lớn, sông Kôn chuyển mình vào Nam, phù sa bồi lấp phía làng Thuận Nghĩa một vùng rộng lớn đến vài trăm mẫu đất, tục gọi là vùng xóm soi. Phần lớn vùng đất phù sa màu mỡ này nằm trong vùng đất do dòng họ Quách tạo mãi, có giấy tờ hẳn hoi.
Khi ấy, người làng lại râm ran: “Nhờ ông Quách Hội Đồng ở hiền nên gặp lành”. Nhiều người thì cho rằng nhờ ông “trên thông thiên văn, dưới tường địa lý”, ông biết trước dòng sông Kôn sẽ đổi hướng nên mới mạnh dạn bỏ tiền ra mua ruộng ven sông”.
Ông Quách Hội Đồng nghĩ bụng, sông Kôn bồi lấp thành ruộng là “của trời cho”, nên ông cúng cho quỹ làng số tiền lớn để làm việc công, chính quyền sở tại khi ấy cũng vô cùng phấn khởi.