🌿 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Xuất khẩu

Nhiều nông sản chủ lực tăng tốc xuất khẩu trong 4 tháng đầu năm - Tạp chí Kinh tế

Tạp chí Kinh tế - Tài chính Online
Nhiều nông sản chủ lực tăng tốc xuất khẩu trong 4 tháng đầu năm - Tạp chí Kinh tế

Nhiều nông sản chủ lực tăng tốc xuất khẩu trong 4 tháng đầu năm

Thứ năm 07/05/2026 19:05 e-ISSN 3093-3501 Trong 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nhiều mặt hàng nông lâm thuỷ sản chủ lực của Việt Nam ghi nhận diễn biến phân hóa rõ nét. Trong khi thủy sản, cà phê tiếp tục duy trì đà tăng trưởng về sản lượng hoặc kim ngạch, thì gạo, cao su, chè chịu áp lực giảm giá trị xuất khẩu tại một số thị trường lớn. Số liệu xuất khẩu các mặt hàng nông sản chủ lực từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, xuất khẩu thủy sản tiếp tục là điểm sáng trong nhóm hàng nông lâm thuỷ sản. Giá trị xuất khẩu thủy sản tháng 4/2026 ước đạt 947,8 triệu USD, đưa tổng kim ngạch 4 tháng đầu năm lên 3,59 tỷ USD, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm 2025. Trung Quốc, Nhật Bản và Hoa Kỳ là 3 thị trường tiêu thụ thủy sản lớn nhất của Việt Nam, với thị phần lần lượt đạt 26,7%, 13,8% và 13%. Đáng chú ý, xuất khẩu thủy sản sang Trung Quốc trong 3 tháng đầu năm tăng mạnh 52,3%, trong khi xuất khẩu sang Nhật Bản tăng nhẹ 1,8%. Ngược lại, thị trường Hoa Kỳ giảm 7,4%. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, Trung Quốc là thị trường có mức tăng mạnh nhất, còn Hoa Kỳ là thị trường duy nhất ghi nhận giảm. Đối với ngành gỗ và sản phẩm gỗ, giá trị xuất khẩu tháng 4/2026 ước đạt 1,43 tỷ USD, nâng tổng kim ngạch 4 tháng đầu năm lên 5,42 tỷ USD, tăng nhẹ 0,4% so với cùng kỳ năm trước. Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam, chiếm 49,1% thị phần. Trung Quốc và Nhật Bản đứng tiếp theo với thị phần tương ứng 15,2% và 13,5%. Trong 3 tháng đầu năm, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang Hoa Kỳ giảm 8,2%, trong khi xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh 47,2% và Nhật Bản tăng 6,1%. Đáng chú ý, trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, Hà Lan là thị trường tăng mạnh nhất với mức tăng 2,1 lần, trong khi Hàn Quốc giảm mạnh nhất với mức giảm 20,5%. Với mặt hàng gạo, tháng 4/2026 Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,1 triệu tấn, đạt giá trị 492,7 triệu USD. Lũy kế 4 tháng đầu năm, xuất khẩu gạo đạt 3,3 triệu tấn với kim ngạch 1,57 tỷ USD, giảm 2,3% về khối lượng và giảm 11,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá gạo xuất khẩu bình quân 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 468,4 USD/tấn, giảm 9% so với cùng kỳ năm trước. Philippin tiếp tục là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam với thị phần 48,5%. Trung Quốc và Gana đứng tiếp theo với thị phần lần lượt 15,6% và 7%. Xuất khẩu gạo sang Philippin tăng 6,7%, trong khi xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh 44,4%. Ngược lại, thị trường Gana giảm 28,7%. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, Trung Quốc là thị trường tăng mạnh nhất, còn Bờ Biển Ngà giảm mạnh nhất với mức giảm 59,6%. Đối với cà phê, tháng 4/2026 xuất khẩu ước đạt 198,8 nghìn tấn với giá trị 845,8 triệu USD. Tính chung 4 tháng đầu năm, xuất khẩu cà phê đạt 789,3 nghìn tấn và 3,6 tỷ USD, tăng 15% về khối lượng nhưng giảm 7,8% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá cà phê xuất khẩu bình quân 4 tháng đầu năm đạt khoảng 4.555 USD/tấn, giảm 19,8% so với cùng kỳ năm 2025. Đức, Italia và Tây Ban Nha là 3 thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam với thị phần lần lượt 15,3%, 8,2% và 7,4%. Trong 3 tháng đầu năm, xuất khẩu cà phê sang Đức giảm 11,2%, Italia giảm 4,3% và Tây Ban Nha giảm 1%. Tuy nhiên, trong nhóm 15 thị trường lớn nhất, Trung Quốc là thị trường tăng mạnh nhất với mức tăng 80,8%, còn Philippin giảm mạnh nhất với mức giảm 28,4%. Với mặt hàng cao su, xuất khẩu tháng 4/2026 ước đạt 73,6 nghìn tấn với giá trị 146,7 triệu USD. Lũy kế 4 tháng đầu năm đạt 463,8 nghìn tấn và 860,9 triệu USD, tăng 2,4% về khối lượng nhưng giảm 1,4% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá cao su xuất khẩu bình quân đạt khoảng 1.856 USD/tấn, giảm 3,8%. Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất với thị phần chiếm 66,1%. Inđônêxia và Ấn Độ đứng tiếp theo với thị phần lần lượt 6,6% và 6%. Trong khi xuất khẩu cao su sang Trung Quốc giảm 10,3%, thì Inđônêxia tăng 2,2 lần và Ấn Độ tăng 42,3%. Mêhicô là thị trường tăng mạnh nhất với mức tăng 4,4 lần, còn Braxin giảm mạnh nhất với mức giảm 42,1%. Đối với mặt hàng chè, xuất khẩu tháng 4/2026 ước đạt 8 nghìn tấn với giá trị 14,8 triệu USD. Tính chung 4 tháng đầu năm, xuất khẩu chè đạt 33,7 nghìn tấn và 57,8 triệu USD, giảm 5,6% về khối lượng và giảm nhẹ 0,04% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá chè xuất khẩu bình quân đạt gần 1.717 USD/tấn, tăng 5,9%. Đài Loan, Pakixtan và Trung Quốc là 3 thị trường tiêu thụ chè lớn nhất của Việt Nam với thị phần lần lượt 11,2%, 7,9% và 7,6%. Trong 3 tháng đầu năm, xuất khẩu chè sang Đài Loan tăng 16,5%, trong khi Pakixtan giảm mạnh 75,2% và Trung Quốc giảm 5,4%. TVQ Arập Thống Nhất là thị trường tăng mạnh nhất với mức tăng 2,9 lần, còn Pakixtan là thị trường giảm mạnh nhất. Tại Báo cáo đặc biệt 301 năm 2026 vừa được công bố, Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) đưa Việt Nam vào nhóm “Quốc gia nước ngoài ưu tiên” (PFC). Theo cơ chế của Hoa Kỳ, đây là bước khởi đầu cho giai đoạn xem xét kéo dài 30 ngày trước khi quyết định có mở điều tra theo Mục 301 hay không. Dưới góc nhìn chuỗi cung ứng và sản xuất thông minh, bà Nguyễn Dạ Quyên, Giám đốc Công ty tư vấn quản trị chuỗi cung ứng CEL cho rằng, PFC không chỉ là thách thức, mà còn là “cú hích”, cơ hội định hình thế hệ doanh nghiệp xuất khẩu mới. Trước tình trạng sầu riêng xuất khẩu bị ùn ứ do vướng khâu kiểm nghiệm các chỉ tiêu Cadimi và Vàng O, nhiều tỉnh phía Nam đang khẩn trương triển khai hàng loạt giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và nhà vườn, sớm khơi thông hoạt động xuất khẩu mặt hàng tỷ USD này. Thương vụ Việt Nam tại CHLB Đức vừa đẩy mạnh quảng bá cà phê Việt Nam tại sự kiện Kaffee Campus Berlin 2026, qua đó mở rộng kết nối với các nhà rang xay, doanh nghiệp nhập khẩu và từng bước nâng cao vị thế cà phê Việt tại thị trường tiêu thụ hàng đầu châu Âu. Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho biết, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 4 tháng đầu năm 2026 đạt 344,17 tỷ USD, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm 2025. Con số này cho thấy bức tranh thương mại đang chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, cán cân thương mại đã đảo chiều với mức nhập siêu 7,11 tỷ USD. Trước diễn biến này, đặc biệt là trong bối cảnh chi phí logistics neo cao và các rào cản xanh từ EU bước vào giai đoạn tính phí, xuất khẩu số đang nổi lên như một lựa chọn không thể trì hoãn. Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm diễn ra trong bối cảnh quan hệ kinh tế song phương tăng trưởng mạnh mẽ, mở ra cơ hội thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư theo chiều sâu, hướng tới mục tiêu 20 tỷ USD và xa hơn trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động, hoạt động xuất nhập khẩu của TP. Đà Nẵng vẫn ghi nhận tín hiệu tích cực với mức tăng trưởng hai con số, góp phần củng cố nền tảng phục hồi kinh tế, mở rộng không gian phát triển và nâng cao năng lực hội nhập quốc tế của địa phương. Ngày 4/5/2026, tại Hà Nội, Ủy ban Hợp tác quản lý cửa khẩu phía Việt Nam đã tổ chức Hội nghị đánh giá tình hình, kết quả và đề xuất giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất nhập cảnh, xuất nhập khẩu qua cửa khẩu tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc. Ngành thủy sản Việt Nam đang đặt mục tiêu đến năm 2030, sản lượng đạt 9,8 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu từ 14-16 tỷ USD, đồng thời phát triển nuôi biển thành ngành công nghiệp quy mô lớn. Để đạt được mục tiêu này, khoa học công nghệ là con đường tất yếu để ngành thuỷ sản phát triển bền vững. Trong bối cảnh thương mại toàn cầu còn nhiều biến động, xuất khẩu nông lâm thuỷ sản của Việt Nam 4 tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì đà tăng trưởng, dù riêng tháng 4 có dấu hiệu chững lại. Cán cân thương mại duy trì trạng thái xuất siêu hơn 5 tỷ USD. Cơ cấu thị trường tiếp tục phân hóa, với châu Á giữ vai trò chủ lực, trong khi một số thị trường lớn ghi nhận sụt giảm. Trung Quốc chi 744 triệu USD nhập khẩu thủy sản Việt Nam trong quý 1/2026 (tăng 49%), nổi bật là nhóm hàng tươi sống, cao cấp như tôm hùm, cua sống… Thương mại điện tử (TMĐT) xuyên biên giới đang nổi lên như một động lực mới cho xuất khẩu Việt Nam, đặc biệt với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, chia sẻ với phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính, bà Phạm Thị Xuân, Viện trưởng Viện phát triển bền vững và kinh tế số cho rằng, để doanh nghiệp Việt tận dụng hiệu quả kênh này, không chỉ cần nền tảng công nghệ mà còn đòi hỏi sự chuyển đổi toàn diện về tư duy, năng lực và chiến lược phát triển thị trường. Ngành sản xuất Việt Nam trong tháng 4/2026 tiếp tục duy trì đà cải thiện, song bức tranh tăng trưởng đã kém tích cực hơn khi số lượng đơn đặt hàng mới giảm, chi phí đầu vào tăng mạnh nhất trong 15 năm và tâm lý kinh doanh suy yếu. Những yếu tố này cho thấy áp lực lạm phát và bất ổn thị trường toàn cầu đang tác động rõ nét đến hoạt động sản xuất trong nước. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động và xu hướng phục hồi chưa đồng đều giữa các khu vực, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng cao trong 4 tháng đầu năm 2026. Tuy nhiên, diễn biến nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu đang đặt ra những vấn đề cần lưu ý về cán cân thương mại và chất lượng tăng trưởng. Bức tranh kim ngạch xuất nhập hàng hóa của Hà Nội trong 4 tháng đầu năm 2026 ghi nhận sự phân hóa rõ nét khi xuất khẩu giảm nhẹ trong khi nhập khẩu tăng mạnh. Diễn biến này phản ánh những chuyển động đáng chú ý của nền kinh tế Thủ đô trong bối cảnh hội nhập và phục hồi chuỗi cung ứng toàn cầu. Những thay đổi chính sách từ hai thị trường lớn là EU và Hoa Kỳ đang tạo ra không ít rào cản đối với doanh nghiệp xuất khẩu hải sản khai thác của Việt Nam. Dù cơ quan quản lý đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, song thực tế triển khai vẫn phát sinh hàng loạt vướng mắc về chứng từ, thủ tục, khiến hàng hóa ách tắc, chi phí tăng.