🌿 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Sạt lở ở ĐBSCL: [Bài cuối] Thay đổi tư duy ứng phó

nongnghiepmoitruong.vn
Sạt lở ở ĐBSCL: [Bài cuối] Thay đổi tư duy ứng phó

Sạt lở không còn theo mùa như trước. Các chuyên gia cho rằng cần đồng bộ giải pháp công trình, quản lý tài nguyên và thích ứng bền vững để giảm nguy cơ lâu dài.

Chuyển từ ứng phó sang quản lý chủ động Trong kế sách ứng phó với sạt lở giai đoạn tới, tỉnh Vĩnh Long thống nhất quan điểm chuyển tư duy từ xử lý bị động sang quản lý rủi ro một cách chủ động. Ngày 20/4/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long đã ký Quyết định số 2708 ban hành Đề án phòng, chống sạt lở bờ sông, bờ biển trên địa bàn tỉnh đến năm 2030. Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 giảm khoảng 30-40% số điểm sạt lở, tương ứng khoảng 110-144 km chiều dài; đồng thời hoàn thành khoảng 90% việc di dời các hộ dân khỏi khu vực nguy cơ cao, tương đương khoảng 1.690 hộ. Một trong những điểm đáng chú ý là tỉnh sẽ tăng cường công tác dự báo, cảnh báo sớm. Từ năm 2023, tỉnh đã đẩy mạnh khảo sát địa hình lòng sông, xây dựng bản đồ sạt lở và triển khai cảnh báo trực tiếp tại các khu vực nguy hiểm. Đến nay, toàn tỉnh đã cắm 165 biển cảnh báo và công bố nhiều khu vực sạt lở khẩn cấp nhằm kịp thời ứng phó, hạn chế thiệt hại. Theo ông Lê Quang Răng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Vĩnh Long, việc tăng cường khảo sát, dự báo giúp người dân chủ động hơn trong phòng tránh rủi ro, đồng thời hỗ trợ địa phương phân bổ nguồn lực hiệu quả cho các khu vực nguy hiểm. Song song với giải pháp phi công trình, tỉnh tiếp tục đầu tư các công trình phòng, chống sạt lở. Hiện toàn tỉnh có hơn 158 km đê biển, 383 km đê sông cùng nhiều tuyến kè bảo vệ bờ tại các khu vực trọng điểm. Các công trình này không chỉ giúp giảm nguy cơ sạt lở mà còn góp phần ổn định nơi ở cho người dân, bảo vệ hạ tầng giao thông, sản xuất và chỉnh trang không gian ven sông, ven biển theo hướng an toàn hơn. Theo Đề án phòng, chống sạt lở bờ sông, bờ biển tỉnh Vĩnh Long đến năm 2030, tổng nhu cầu vốn dự kiến giai đoạn 2026-2030 hơn 35.782 tỷ đồng. Nguồn lực sẽ được ưu tiên cho các khu vực xung yếu, phát triển rừng phòng hộ ven biển và đầu tư hệ thống quan trắc, dự báo hiện đại. Tỉnh cũng xác định kiểm soát chặt khai thác cát, quản lý xây dựng ven sông, ven biển và phục hồi rừng ngập mặn là những giải pháp then chốt nhằm giảm nguy cơ sạt lở về lâu dài. Giám sát diễn biến xói lở định kỳ hằng năm Nhìn rộng ra toàn vùng, các chuyên gia thủy lợi cho rằng, không thể kè toàn bộ hệ thống sông ngòi, bờ biển cho cả vùng ĐBSCL do chi phí đầu tư rất lớn. Vì vậy, các công trình cần được ưu tiên cho khu vực dân cư đông đúc, hạ tầng trọng yếu hoặc những điểm sạt lở đặc biệt nguy hiểm. Đồng quan điểm, ThS Lê Thanh Chương, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chỉnh trị sông và Phòng chống thiên tai - Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam cho biết, những năm gần đây, sạt lở bờ sông, bờ biển tại ĐBSCL có xu hướng diễn ra thường xuyên hơn trong năm. Ở các khu vực đã được đầu tư công trình kè bảo vệ bờ hoặc kè giảm sóng, tình trạng sạt lở cơ bản được kiểm soát. Tuy nhiên, nhiều đoạn sông, bờ biển chưa có công trình bảo vệ vẫn tiếp tục đối mặt nguy cơ cao. Đáng chú ý, nhiều vụ sạt lở nghiêm trọng hiện nay lại xảy ra ngay trong mùa khô - thời điểm người dân thường ít cảnh giác hơn. Vào mùa khô, mực nước sông xuống thấp làm giảm áp lực nước đẩy ngược vào mái bờ. Khi mất đi “bệ đỡ” tự nhiên từ nước, mái đất dễ mất ổn định và sụp đổ. Trong khi đó, đầu mùa mưa là thời điểm đất sau thời gian dài khô hạn xuất hiện nhiều vết nứt. Nước mưa đầu mùa thấm sâu vào các khe nứt khiến đất tăng trọng lượng, kết cấu bở rời hơn, từ đó dẫn đến sạt lở nghiêm trọng. Đề cập giải pháp ứng phó, ThS Lê Thanh Chương cho rằng, các tỉnh vùng ĐBSCL cần ưu tiên đẩy mạnh thực hiện các giải pháp phi công trình, cần quy hoạch lại khu dân cư dọc theo tuyến bờ sông bờ biển bị sạt lở, trên cơ sở tính toán chi phí di dời giải tỏa và xây dựng công trình để quyết định cho phù hợp. Bên cạnh việc tăng cường khả năng trong công tác cảnh báo dự báo sạt lở bờ sông, bờ biển thì cần thiết lập quy hoạch chỉnh trị tổng thể các sông lớn, sông rạch chính để đảm bảo lợi dụng tổng hơp của các ngành kinh tế có liên quan. Đối với các khu vực sạt lở đặc biệt nguy hiểm cần phải được ưu tiên đầu tư xây dựng các công trình bảo vệ bờ, nhằm ngăn chặn giảm thiểu thiệt hại do sạt lở gây ra. Với các giải pháp công trình cứng và giải pháp nuôi bãi cần có những dự án nghiên cứu thử nghiệm để quan trắc theo dõi và đánh giá hiệu quả. Đồng thời, hoàn chỉnh và thực thi khung pháp lý về quản lý bờ sông, bờ biển, cụ thể là việc thiết lập và thực thi hành lang bảo vệ bờ, trong đó quy định khoảng lùi hợp lý trong việc xây dựng công trình hạ tầng, quy hoạch sử dụng đất. Bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn phải được xem là giải pháp ưu tiên hàng đầu vì đây là giải pháp vừa thân thiện với môi trường, vừa tạo ra đa dạng sinh học cho khu vực ven biển, đồng thời mang lại sinh kế cho người dân địa phương. "Xói lở lòng dẫn sông, sạt lở bờ biển là quá trình diễn biến phức tạp, luôn thay đổi theo cả không gian và thời gian. ĐBSCL là vùng dễ bị tổn thương trước những tác động của điều kiện tự nhiên và tác động của con người, vì vậy để nắm bắt được quy luật diễn biến xói bồi lòng dẫn sông, bờ biển, cũng như có những giải pháp xử lý ứng phó kịp thời các tình huống khẩn cấp thì công tác quan trắc giám sát diễn biến quá trình xói bồi bờ sông, bờ biển phải được thực hiện định kỳ hằng năm. Kết quả thực hiện công tác này đồng thời cung cấp cơ sở khoa học, dữ liệu đầu vào để phục vụ cho công tác cảnh báo dự báo sạt lở bờ" - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chỉnh trị sông và Phòng chống thiên tai - Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam nhấn mạnh. Với nền đất ngày càng suy yếu và nguồn phù sa tiếp tục suy giảm, bài toán sạt lở ở ĐBSCL không còn là xử lý sự cố đơn lẻ mà đang trở thành bài toán an ninh tài nguyên và không gian sinh tồn của cả vùng.