200 đại biểu bàn cách nâng chất lượng sầu riêng

200 đại biểu bàn cách nâng chất lượng sầu riêng
Chiều 15/9, gần 200 đại biểu từ cơ quan quản lý, hệ thống khuyến nông, doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị cung ứng và người trồng sầu riêng tham dự Tọa đàm "Liên kết để bền vững - Hợp tác để vươn xa" do Công ty cổ phần Tập đoàn Xuất nhập khẩu Trái cây Chánh Thu tổ chức tại thôn Nam Kỳ, xã Cuôr Đăng, Đắk Lắk. Tham dự có ông Lê Minh Hoan, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Tọa đàm tập trung vào một nghịch lý của ngành hàng. Sản lượng và xuất khẩu tăng nhanh nhưng tỷ lệ hàng đạt chất lượng cao có xu hướng giảm. Các khâu từ vật tư, canh tác, quản lý vùng trồng đến thu mua vì thế cần được kết nối, thay vì xử lý riêng lẻ khi trái đã rời khỏi vườn.
Kết nối từ vườn đến thị trường
Theo Báo cáo tình hình sản xuất, thu mua và chất lượng sầu riêng giai đoạn 2023-2026 của Chánh Thu, sản lượng doanh nghiệp thu mua tăng từ 18.000 tấn năm 2024 lên 31.000 tấn năm 2025 và dự kiến đạt 40.000 tấn trong năm nay. Cùng thời gian, giá bình quân hàng A giảm lần lượt từ 90.000 đồng xuống 80.000 đồng và dự kiến còn 70.000 đồng/kg.
Như vậy, sau 2 năm, lượng thu mua có thể tăng hơn 120%, trong khi giá bình quân của hàng loại tốt giảm hơn 22%. Báo cáo đồng thời ghi nhận tỷ lệ hàng A giảm khi nguồn cung tăng. Diễn biến này đặt chất lượng, thay vì chỉ sản lượng, vào trung tâm cuộc trao đổi giữa các thành phần tham gia tọa đàm.
Ở phạm vi toàn ngành, nguồn cung sầu riêng Việt Nam đã tăng mạnh. Sản lượng trong nước năm 2024 đạt 1,533 triệu tấn, tăng lên khoảng 1,8 triệu tấn năm 2025 và dự kiến đạt 2-2,1 triệu tấn năm 2026.
Lợi thế sản lượng cũng được phản ánh tại thị trường Trung Quốc. Theo hải quan nước này, năm 2025 Trung Quốc nhập 941.000 tấn sầu riêng tươi từ Việt Nam, lần đầu vượt mức 920.000 tấn của Thái Lan. Thị phần của Việt Nam tăng từ 34,55% năm 2023 lên 50,37% năm 2025.
Tuy nhiên, sản lượng lớn hơn kéo theo yêu cầu tổ chức lại các khâu liên quan đến chất lượng. Chánh Thu chỉ ra 3 điểm nghẽn trong thu mua, gồm thói quen mua bán “cào lùa”, tỷ trọng mã số vùng trồng còn thấp so với nhu cầu và chất lượng hàng hóa chưa theo kịp yêu cầu của thị trường nhập khẩu.
Những hạn chế trong thu mua lại bắt nguồn từ nhiều lựa chọn tại vườn. Khi giá sầu riêng tăng từ 40.000-50.000 đồng/kg lên 100.000 đồng/kg, một bộ phận nông dân để quá nhiều trái trên cây nhằm tăng sản lượng. Cây dễ suy kiệt, giảm khả năng phục hồi và ảnh hưởng chất lượng trái.
Việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật với cường độ cao, chưa đúng liều lượng hoặc thời điểm cũng có thể khiến cây rối loạn sinh trưởng. Vật tư giả, kém chất lượng cùng tình trạng thiếu quy trình canh tác thống nhất là những vấn đề khác được nêu tại tọa đàm.
Vì vậy, giải pháp không chỉ nằm ở người trồng. Đó cũng là không gian để tọa đàm phân định từng phần việc liên quan tới doanh nghiệp, nông dân, hợp tác xã, thương lái, cơ quan quản lý, hệ thống khuyến nông và đơn vị kỹ thuật trong hành trình sản xuất sầu riêng bền vững.
Đưa hỗ trợ kỹ thuật về từng vùng trồng
Một nội dung khác tại tọa đàm là kết hợp khuyến nông với dữ liệu vùng trồng. Chánh Thu dự kiến hỗ trợ chi phí ứng dụng công nghệ phục vụ truy xuất nguồn gốc, theo dõi vùng nguyên liệu và dự báo, tạo thêm cơ sở cho các bên lựa chọn giải pháp canh tác.
Giải pháp do SC Việt Nam giới thiệu sử dụng dữ liệu từ cảm biến, hình ảnh tại vườn, tình trạng đất, cây trồng và dự báo thời tiết. Thông tin này được dùng để theo dõi diễn biến vườn, nhận diện sớm rủi ro, hỗ trợ quyết định về tưới nước, chăm sóc và quản lý dinh dưỡng.
Khi dữ liệu được tích lũy từ nhiều vườn và nhiều vùng nguyên liệu, doanh nghiệp, hợp tác xã cùng đội ngũ kỹ thuật có thể xác định nơi cần hỗ trợ và thời điểm can thiệp. Công nghệ không thay thế kinh nghiệm của người trồng mà cung cấp thêm dữ liệu để kiểm tra các quyết định tại vườn.
Bà Ngô Tường Vy, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Chánh Thu Group nêu định hướng phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, hệ thống khuyến nông địa phương, nông dân và nhà khoa học để xây dựng hướng dẫn kỹ thuật theo từng khu vực.
Nội dung hỗ trợ dự kiến dựa trên khí hậu, thổ nhưỡng, nguồn nước, đặc tính giống và phương thức canh tác, thay vì áp dụng một quy trình chung cho mọi vùng.