5 giải pháp nâng giá trị xuất khẩu sầu riêng

5 giải pháp nâng giá trị xuất khẩu sầu riêng
Thông tin tại họp báo Chính Phủ ngày 3-9, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng đã tăng mạnh trong những năm gần đây. Từ 177,7 triệu USD năm 2021, con số này tăng lên khoảng 3,85 tỷ USD năm 2025, chiếm khoảng 45% tổng giá trị xuất khẩu nhóm hàng rau quả.
Trong 7 tháng năm 2026, xuất khẩu sầu riêng đạt khoảng 1,47 tỷ USD, tăng 44,1% so với cùng kỳ năm trước. Riêng thị trường Trung Quốc đạt khoảng 1,38 tỷ USD, chiếm hơn 95% thị phần và tăng 49,6%.
Ước tính 8 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sầu riêng đạt 1,97 tỷ USD, tăng 28,3% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu sang Trung Quốc đạt khoảng 1,85 tỷ USD, tăng 29,9%.
Bên cạnh thị trường Trung Quốc, Việt Nam đang từng bước đa dạng hóa thị trường, đưa sầu riêng đến hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đáng chú ý, từ tháng 7-2026, Ấn Độ chính thức cho phép nhập khẩu sầu riêng tươi của Việt Nam, mở thêm cơ hội cho ngành hàng này.
Theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, hiện cả nước có 1.599 mã số vùng trồng và 281 cơ sở đóng gói sầu riêng đang hoạt động. Ngày 14-8-2026, Tổng cục Hải quan Trung Quốc đã phê duyệt bổ sung 401 mã số vùng trồng và 166 mã số cơ sở đóng gói sầu riêng.
Năng lực kiểm nghiệm phục vụ xuất khẩu cũng từng bước được củng cố. Hệ thống phòng kiểm nghiệm được phía Trung Quốc chấp thuận ngày càng mở rộng, góp phần đáp ứng yêu cầu về an toàn thực phẩm, hạn chế nguy cơ phát sinh các cảnh báo về chất lượng.
Đặc biệt, từ ngày 1-7-2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chính thức thực hiện truy xuất nguồn gốc nông sản, trong đó có sầu riêng xuất khẩu, trên hệ thống điện tử.
Liên quan đến việc đẩy mạnh xuất khẩu sầu riêng trong thời gian tới, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp nhấn mạnh, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo, định hướng nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc; hướng ngành hàng sầu riêng phát triển chuyên nghiệp, minh bạch, chất lượng, nâng cao giá trị và bền vững. Trong đó, tập trung thực hiện 5 giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Bộ sẽ tiếp tục đàm phán mở cửa, tăng thị phần tại các thị trường tiềm năng như Ấn Độ, Australia, New Zealand; đồng thời thúc đẩy xuất khẩu sầu riêng đông lạnh và các sản phẩm chế biến. Cùng với đó là tăng cường quảng bá thương hiệu, kết nối cung cầu, phân tích và dự báo thị trường để kịp thời định hướng sản xuất, thu hoạch và tiêu thụ.
Thứ hai,** **tổ chức lại sản xuất, phát triển vùng nguyên liệu bền vững. Các địa phương sẽ rà soát, quy hoạch vùng sản xuất phù hợp với điều kiện đất đai, nguồn nước, khí hậu và hạ tầng; phát triển vùng nguyên liệu tập trung gắn với sơ chế, chế biến, bảo quản và xuất khẩu. Đồng thời, củng cố liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trở lại vùng nguyên liệu, từng bước xây dựng thương hiệu sầu riêng Việt Nam.
Thứ ba,** **chuẩn hóa chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Ngành nông nghiệp sẽ tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số; tổ chức sản xuất theo quy trình an toàn, kiểm soát chặt vật tư đầu vào và nguy cơ dư lượng.
Công tác giám sát an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật, cảnh báo sớm nguy cơ vi phạm cũng được tăng cường. Đồng thời, hoàn thiện hệ thống truy xuất từ vùng trồng, cơ sở đóng gói đến doanh nghiệp xuất khẩu.
Thứ tư, phát triển hạ tầng bảo quản, chế biến và logistics. Bộ khuyến khích đầu tư kho lạnh, cơ sở sơ chế, bảo quản và chế biến tại các vùng sản xuất tập trung; đa dạng hóa sản phẩm và phương thức vận chuyển, ứng dụng công nghệ nhằm giảm chi phí, nâng cao chất lượng. Cùng với đó là nâng cấp hạ tầng thủy lợi và giao thông phục vụ vùng nguyên liệu.
Thứ năm,** **mở rộng và nâng cao năng lực hệ thống phòng kiểm nghiệm. Theo đó, tiếp tục xã hội hóa, mở rộng các phòng kiểm nghiệm đủ điều kiện; ưu tiên đầu tư thiết bị, nâng cao năng lực kiểm nghiệm đối với các chỉ tiêu mà thị trường nhập khẩu yêu cầu, trong đó có Cadimi và Vàng O. Đồng thời, chuẩn hóa quy trình, đẩy mạnh số hóa, rút ngắn thời gian kiểm nghiệm và nâng cao độ tin cậy của kết quả.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng yêu cầu tăng cường đào tạo, cập nhật kỹ thuật và tiêu chuẩn quốc tế cho đội ngũ kiểm nghiệm viên, cán bộ quản lý; công khai quy trình, thời gian, chi phí kiểm nghiệm và tổ chức hoạt động linh hoạt theo mùa vụ.
Với những giải pháp này, ngành hàng sầu riêng được kỳ vọng từng bước nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng, giảm phụ thuộc vào một thị trường, đồng thời xây dựng chuỗi sản xuất - xuất khẩu minh bạch, ổn định và bền vững hơn.