An Giang: Chủ động sản xuất nông nghiệp, thích ứng diễn biến thời tiết

An Giang: Chủ động sản xuất nông nghiệp, thích ứng diễn biến thời tiết
An Giang: Chủ động sản xuất nông nghiệp, thích ứng diễn biến thời tiết
Để bảo đảm sản xuất đúng thời vụ và đạt hiệu quả, nông dân tỉnh An Giang cần chủ động xây dựng kế hoạch, chuẩn bị đầy đủ giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và các điều kiện cần thiết. Đây là giải pháp quan trọng nhằm thích ứng với diễn biến thời tiết, hạn chế thiệt hại và ổn định sản xuất.
Tính đến hết tháng 9 năm 2026, GDP khu vực nông, lâm, thủy sản của tỉnh An Giang tăng 4,02%; kim ngạch xuất khẩu ước đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2025. Để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 4% và kim ngạch cả năm đạt 74 tỷ USD trở lên, những tháng cuối năm đang đặt ra yêu cầu cao hơn đối với nguồn cung và khả năng giữ vững thị trường; đặc biệt là sản xuất nông nghiệp.
Theo số liệu từ Cục Thống kê cho thấy, 9 tháng năm 2026, nhiều nhóm sản phẩm nông nghiệp như lúa, cây ăn quả, chăn nuôi và thủy sản của tỉnh tiếp tục duy trì năng suất và sản lượng cao, đáp ứng nhu cầu trong nước và tạo nguồn hàng xuất khẩu.
Cụ thể, xuất khẩu rau quả đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9%; thủy sản đạt 9,17 tỷ USD, tăng 12,3%; sản phẩm chăn nuôi đạt 564,4 triệu USD, tăng 24,6%; hạt điều đạt 3,85 tỷ USD, tăng 2%; hạt tiêu đạt 1,4 tỷ USD, tăng 10,2%...
Bên cạnh đó, theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, thực hiện định hướng sản xuất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu, sở đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 457/KH-UBND về xả lũ vụ Thu Đông đối với các tiểu vùng sản xuất ba vụ giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh An Giang; trong đó, năm 2026 thực hiện xả lũ 46.324ha, thuộc 37 xã, phường. Đây là một trong những giải pháp quan trọng nhằm tận dụng nguồn nước tự nhiên, hỗ trợ cải thiện chất lượng đất, phục hồi hệ sinh thái đồng ruộng; nâng cao hiệu quả sản xuất trong những vụ tiếp theo và tính bền vững của sản xuất nông nghiệp.
Trước tình hình trên, theo lãnh đạo Chi cục Thủy lợi tỉnh An Giang cho biết, về nguồn phù sa bồi đắp cho đồng ruộng, lượng phù sa đưa vào đồng phụ thuộc vào hàm lượng phù sa trong dòng chảy từ thượng nguồn, mực nước lũ, thời gian ngập, khả năng kết nối giữa sông và đồng ruộng cũng như điều kiện vận hành các công trình thủy lợi. Do đó, với đặc điểm lũ năm 2026 có mực nước thấp hơn một số năm trước, thời gian ngập ngắn và nước rút nhanh, khả năng tiếp nhận và bồi lắng phù sa trên đồng ruộng có thể bị hạn chế so với những năm lũ lớn, kéo dài.
Tuy nhiên, không thể chỉ căn cứ vào mực nước và thời gian ngập để kết luận chính xác lượng phù sa năm nay tăng hay giảm bao nhiêu; vấn đề này cần được đánh giá thông qua số liệu quan trắc và phân tích thực tế tại từng khu vực. Cần nhấn mạnh rằng, đối với ngành nông nghiệp, việc đưa nước lũ vào đồng ruộng có ý nghĩa rất quan trọng tiếp nhận phù sa, bổ sung dinh dưỡng tự nhiên mà còn góp phần rửa phèn, cải thiện môi trường đất, vệ sinh đồng ruộng hạn chế một số nguồn sâu bệnh tồn lưu sau các vụ sản xuất và tạo điều kiện phục hồi nguồn lợi thủy sản tự nhiên.
Đây là giải pháp quan trọng nhằm cải thiện hệ sinh thái đồng ruộng, hướng đến sản xuất nông nghiệp bền vững. Đối với vụ Đông Xuân 2026-2027, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh xác định đây là vụ sản xuất quan trọng, cần được tổ chức chặt chẽ nhằm bảo đảm năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cho nông dân. Trước diễn biến mùa nước nổi năm 2026 có nhiều biến động, nước rút nhanh tại một số khu vực và nguy cơ ảnh hưởng El Nino mùa khô năm 2026-2027, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh khuyến cáo nông dân cần chủ động chuẩn bị các điều kiện sản xuất, không chủ quan trước tình hình nguồn nước hiện tại.
Trong đó, tập trung thực hiện một số giải pháp như nông dân thường xuyên theo dõi thông tin dự báo thời tiết, diễn biến nguồn nước và hướng dẫn của cơ quan chuyên môn tại địa phương; thực hiện xuống giống theo lịch thời vụ do ngành nông nghiệp khuyến cáo, bảo đảm phù hợp với điều kiện nguồn nước và đặc điểm của từng tiểu vùng. Đặc biệt, không xuống giống tại những khu vực chưa bảo đảm nguồn nước tưới cho suốt vụ sản xuất, tránh tình trạng thiếu nước ở giai đoạn lúa làm đòng, trổ và nuôi hạt, ảnh hưởng đến năng suất.
Đối với những diện tích có thời gian ngập lũ ngắn, các tiểu vùng không xả lũ, khả năng tiếp nhận phù sa hạn chế, nông dân cần quan tâm bổ sung chất hữu cơ cho đất thông qua sử dụng phân hữu cơ, phân hữu cơ vi sinh phù hợp; xử lý rơm rạ sau thu hoạch đúng kỹ thuật, hạn chế đốt rơm rạ ngoài đồng; thực hiện bón phân cân đối, hợp lý theo nhu cầu sinh trưởng của cây lúa, tăng hiệu quả sử dụng phân bón, cải thiện chất lượng đất và giảm chi phí sản xuất. Ưu tiên sử dụng giống lúa xác nhận, giống có chất lượng cao, thời gian sinh trưởng phù hợp, khả năng thích ứng với điều kiện sinh thái và nguồn nước của từng địa phương, đồng thời đáp ứng nhu cầu thị trường.
Về cơ cấu nhóm giống lúa, ngành nông nghiệp An Giang khuyến cáo gồm: Nhóm giống chủ lực OM18, OM5451, OM4900, OM6976, OM2517, OM7347, Đài Thơm 8, ST24, ST25…; Nhóm giống bổ sung: IR4625, ĐS1, OM2717, OM6162, RVT, OM4218, Jasmine 85, ML202, Cửu Long 555… Việc lựa chọn giống cụ thể cần căn cứ vào cơ cấu giống được khuyến cáo, điều kiện canh tác và nhu cầu tiêu thụ tại từng địa phương; không nên sử dụng giống chưa được kiểm chứng hoặc gieo sạ nhiều giống trên cùng một cánh đồng.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh áp dụng các quy trình canh tác tiên tiến, thực hiện quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM), sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật theo nguyên tắc đúng lúc, đúng cách, đúng liều lượng; thường xuyên thăm đồng để phát hiện sớm và phòng trừ sinh vật gây hại kịp thời.
Đặc biệt, nông dân cần tích cực tham gia các hợp tác xã, tổ hợp tác để cùng tổ chức sản xuất, thống nhất lịch thời vụ, cơ cấu giống, quy trình kỹ thuật và quản lý đồng ruộng...; qua đó, từng bước hình thành vùng sản xuất tập trung, nâng cao chất lượng hạt gạo, giảm chi phí đầu vào, hạn chế rủi ro về đầu ra và nâng cao thu nhập cho người nông dân.
Việc chủ động chuẩn bị nguồn lực và các điều kiện cần thiết có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp tại An Giang. Trong bối cảnh thời tiết, dịch bệnh và thị trường còn tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường, nông dân cần nâng cao tinh thần chủ động, tuân thủ khung lịch thời vụ, lựa chọn giống cây trồng phù hợp, bảo đảm nguồn nước tưới và chuẩn bị đầy đủ vật tư phục vụ sản xuất.
Bên cạnh đó, cần tăng cường áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực và thường xuyên cập nhật khuyến cáo từ ngành chức năng. Sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, ngành chuyên môn và người dân sẽ góp phần hạn chế rủi ro, ổn định sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, hướng đến phát triển nông nghiệp bền vững.
Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook
Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.