Đẩy mạnh chuyển đổi số để nâng tầm nuôi tôm thẻ chân trắng

Hơn 39.000 ha nuôi tôm thẻ chân trắng, Cần Thơ đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm nâng cao năng suất, chất lượng tôm nuôi.
Tôm thẻ chân trắng giữ vai trò chủ lực
Tôm thẻ chân trắng đang trở thành đối tượng nuôi chủ lực, đóng góp quan trọng vào giá trị sản xuất và xuất khẩu thủy sản. Trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường, Cần Thơ xác định ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là hướng đi quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh ngành tôm.
Theo bà Quách Thị Thanh Bình, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Cần Thơ, hiện thành phố có hơn 96.500 ha nuôi thủy sản. Trong đó, diện tích nuôi tôm nước lợ khoảng 51.000 ha, gồm 11.730 ha tôm sú và 39.269 ha tôm thẻ chân trắng. Đây là những đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao, giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu ngành thủy sản địa phương.
Với diện tích hiện có, tôm thẻ chân trắng chiếm khoảng 40,7% diện tích nuôi thủy sản và đóng góp 29,2% tổng sản lượng thủy sản nuôi hằng năm. Sản lượng tôm thẻ chân trắng ước đạt 215.270 tấn/năm. Đáng chú ý, năm 2025, giá trị xuất khẩu thủy sản của thành phố đạt hơn 2,1 tỷ USD, chiếm gần 19% giá trị xuất khẩu thủy sản cả nước.
Những con số trên cho thấy ngành tôm đang giữ vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp Cần Thơ sau hợp nhất. Tuy nhiên, quy mô sản xuất lớn cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về tổ chức lại vùng nuôi, kiểm soát chất lượng, quản lý môi trường và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, dịch bệnh diễn biến khó lường, giá vật tư đầu vào biến động và các thị trường nhập khẩu ngày càng nâng cao tiêu chuẩn, phương thức nuôi truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế. Do đó, chuyển đổi sang sản xuất hiện đại, ứng dụng công nghệ và quản lý bằng dữ liệu số là yêu cầu tất yếu.
Bà Quách Thị Thanh Bình cho biết, thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Cần Thơ xác định đây là động lực quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh ngành tôm.
Theo đó, thành phố đang từng bước chuyển từ tư duy chạy theo sản lượng sang chú trọng chất lượng, hiệu quả kinh tế và truy xuất nguồn gốc. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng cơ sở dữ liệu, số hóa bản đồ vùng nuôi thủy sản nhằm phục vụ công tác quản lý và tổ chức sản xuất.
Trong năm 2026, Cần Thơ đã triển khai số hóa bản đồ đối với 348 cơ sở nuôi cá tra, dự kiến năm 2027 tiếp tục mở rộng đến hơn 38.000 cơ sở nuôi tôm nước lợ. Bên cạnh đó, dữ liệu tại 38 điểm quan trắc, cảnh báo chất lượng môi trường nước cũng được số hóa.
Theo kế hoạch, trong tháng 11/2026, hệ thống sẽ hoàn thành, đưa vào áp dụng, phục vụ quản lý và kết nối dữ liệu từ thành phố đến xã, phường, đồng thời tạo cơ sở triển khai truy xuất nguồn gốc điện tử thủy sản nuôi.
Việc số hóa giúp cơ quan quản lý nắm bắt chính xác diện tích, đối tượng nuôi, tình hình sản xuất và biến động tại các vùng nuôi. Qua đó, ngành chức năng chủ động hơn trong quy hoạch, giám sát môi trường, cảnh báo dịch bệnh và hướng dẫn người dân điều chỉnh quy trình sản xuất phù hợp.
Ứng dụng công nghệ hướng đến nuôi tôm thông minh
Song song với số hóa dữ liệu, Cần Thơ đang thúc đẩy ứng dụng các công nghệ hiện đại trực tiếp vào quá trình nuôi tôm. Trong đó, hệ thống quan trắc tự động sử dụng cảm biến IoT được tích hợp để giám sát các chỉ tiêu môi trường nước theo thời gian thực, giúp phát hiện sớm những biến động bất lợi và cảnh báo nguy cơ dịch bệnh.
Cùng với đó, các quy trình nuôi tiên tiến như hệ thống tuần hoàn nước (RAS), công nghệ Biofloc, cho ăn tự động định lượng bằng cảm biến âm thanh và camera giám sát kết nối điện thoại thông minh được khuyến khích áp dụng. Những giải pháp này giúp người nuôi kiểm soát tốt lượng thức ăn, chất lượng môi trường, hạn chế ô nhiễm nguồn nước và giảm chi phí sản xuất.
Đặc biệt, việc ứng dụng công nghệ cho ăn tự động góp phần hạn chế thức ăn dư thừa, cải thiện hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR). Ở khâu đầu vào, kiểm soát chất lượng con giống sạch bệnh bằng công nghệ sinh học cũng được chú trọng nhằm nâng cao tỷ lệ sống, hạn chế rủi ro và giảm áp lực sử dụng thuốc, hóa chất trong quá trình nuôi.
Một hướng đi đáng chú ý khác là phát triển kinh tế tuần hoàn trong nuôi tôm. Hiện thành phố đang nghiên cứu áp dụng 138 mô hình tái sử dụng chất thải trong nuôi tôm để sản xuất biogas làm nhiên liệu đốt và phát điện phục vụ sinh hoạt. Bước đầu, các mô hình cho kết quả khả quan, góp phần tận dụng phụ phẩm, giảm chất thải và hướng đến sản xuất thân thiện với môi trường.
Theo bà Quách Thị Thanh Bình, ứng dụng công nghệ cần được triển khai đồng bộ từ con giống, quy trình chăm sóc, quản lý môi trường đến thu hoạch và tiêu thụ. Qua đó, người nuôi không chỉ giảm chi phí, hạn chế rủi ro mà còn từng bước đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế như ASC, BAP và GlobalGAP.
Thành phố cũng xác định doanh nghiệp là trung tâm đổi mới sáng tạo trong chuỗi giá trị thủy sản. Các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu có vai trò dẫn dắt thông qua đầu tư công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đến hợp tác xã, hộ nuôi. Qua đó, tăng cường liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người nuôi, hình thành chuỗi sản xuất khép kín, nâng cao giá trị sản phẩm tôm.
Tuy nhiên, quá trình ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số vẫn còn những khó khăn. Hạ tầng công nghệ thông tin tại một số xã, phường chưa đồng bộ; thiết bị thu thập dữ liệu tại cơ sở còn hạn chế, việc kết nối thông tin từ ao nuôi đến cơ quan quản lý và hệ thống truy xuất nguồn gốc chưa thông suốt.
Bên cạnh đó, chi phí đầu tư các mô hình nuôi công nghệ cao như RAS, Biofloc, quan trắc IoT và xử lý chất thải còn lớn, trong khi phần đông cơ sở nuôi có quy mô vừa và nhỏ, khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi. Khả năng tiếp cận, làm chủ công nghệ của người nuôi chưa đồng đều. Trong khi đó, còn một bộ phận vẫn duy trì tập quán sản xuất truyền thống, chưa mạnh dạn thay đổi phương thức quản lý và ghi chép dữ liệu điện tử.
Để tháo gỡ những điểm nghẽn trên, Cần Thơ đặt mục tiêu chuẩn hóa dữ liệu thủy sản theo nguyên tắc “Đúng - Đủ - Sạch - Sống”, quản lý chặt chẽ thông tin cơ sở nuôi, mã số vùng nuôi và vận hành bảng điều hành số (Dashboard), bảo đảm kết nối liên thông giữa thành phố với xã, phường. Đồng thời, thành phố định hướng số hóa 100% vùng nuôi các đối tượng thủy sản chủ lực, phát triển trang trại thông minh gắn với giám sát môi trường tự động, giảm phát thải khí nhà kính và đáp ứng tiêu chuẩn thị trường nhập khẩu.
Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook
Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.