🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Dưỡng 8.000m² sầu riêng đến cháy rễ, mới nhận ra 'bệnh' nằm ở... đất

Cập nhật: Tạp chí Nông Thôn Việt
Dưỡng 8.000m² sầu riêng đến cháy rễ, mới nhận ra 'bệnh' nằm ở... đất

Dưỡng 8.000m² sầu riêng đến cháy rễ, mới nhận ra 'bệnh' nằm ở... đất

Dưỡng 8.000m² sầu riêng đến cháy rễ, mới nhận ra 'bệnh' nằm ở... đất

Nước tưới vừa xả xuống đã chảy tràn ra mương. Đất trong vườn sầu riêng cứng lại, nứt nẻ; rễ cám thối đen. Thấy cây yếu, ông Nguyễn Văn Nầy càng đổ thêm tiền mua phân. Nhưng phân càng bón nhiều, cây càng suy, đất càng chai cứng.

'Cứ nghĩ cây thiếu chất thì bón thêm phân'

Nhìn cây sầu riêng ra đọt ngắn ngủn, lá mỏng, hoa lưa thưa rồi rụng, ông Nguyễn Văn Nầy, 66 tuổi, ở xã Long Tiên, tỉnh Đồng Tháp (huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang cũ), nghĩ đơn giản: cây thiếu chất thì phải bón thêm phân.

NPK, DAP rồi thuốc dưỡng liên tục được đưa vào khu vườn 8.000m².

Tiền phân bón từ đó tăng gấp rưỡi, có lúc gấp đôi. Nhưng điều ông chờ đợi lại không xảy ra. Cây chẳng khỏe hơn. Đất dưới chân ngày càng chai cứng.

“Xới nhẹ gốc lên thì rễ cám thối đen, không bò nổi”, ông Nầy kể.

Rồi hạn mặn ập đến. Khu vườn vốn đã suy yếu lại chịu thêm nước mặn. Trong lúc nóng ruột cứu cây, ông tiếp tục rải phân vô cơ.

Lần này, 2.000m² sầu riêng cháy rễ, chết khô.

“Tôi quýnh quá, lại xách phân vô cơ rải dập, ai dè cháy rễ. Còn 6.000m² kia thì lá rụng xơ xác, ngáp ngáp”, ông kể.

Nhìn khoảng đất trống sau những cây sầu riêng chết, người nông dân này mới nhận ra: có thể ông đã quá chăm chăm nuôi cây mà quên nuôi đất.

Câu chuyện trong khu vườn của ông Nầy không chỉ là chuyện của một người trồng sầu riêng.

Đằng sau những mùa vụ liên tiếp của nền nông nghiệp Việt Nam là một tài sản ít khi xuất hiện trong những con số về sản lượng hay kim ngạch xuất khẩu: sức khỏe của đất.

Sức khỏe đất và những con số giật mình

Theo Cục Quản lý đất đai, từ năm 2020, đất nông nghiệp đã ghi nhận dấu hiệu thoái hóa ở mức nhẹ đến trung bình. Trong tổng số 11,8 triệu ha được điều tra, diện tích thoái hóa nặng chiếm 4,14%, tương đương 3,64% diện tích tự nhiên cả nước. Trong khi đó, thống kê diện tích đất đai tính đến hết tháng 12/2025 cho thấy cả nước có hơn 28 triệu ha đất nông nghiệp.

Những con số ấy đặt ra một nghịch lý đáng suy nghĩ.

Xem thêm: Người đi từ đồi đá chết đến di sản ca cao Việt Nam

Việt Nam đang nằm trong nhóm quốc gia có khả năng tự chủ lương thực cao trên thế giới. Theo nghiên cứu đăng trên tạp chí Nature Food tháng 6/2025, Việt Nam chỉ đứng sau Guyana trong bảng xếp hạng 186 quốc gia về khả năng tự chủ lương thực. Việt Nam tự chủ được 6/7 nhóm thực phẩm thiết yếu gồm ngũ cốc, rau củ, trái cây, thực phẩm chứa tinh bột, thịt và cá. Nghiên cứu do các nhà khoa học thuộc Đại học Göttingen (Đức) và Đại học Edinburgh (Scotland) thực hiện, dựa trên số liệu của FAO.

Trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nông - lâm sản của Việt Nam đạt hơn 33,1 tỷ USD, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Nhưng mỗi chuyến lúa rời khỏi đồng, mỗi chuyến cà phê, hồ tiêu hay trái cây rời khỏi vườn cũng mang đi một phần dinh dưỡng mà cây đã lấy từ đất.

Nếu những gì lấy đi cứ tiếp diễn qua nhiều năm mà phần trả lại không tương xứng, “vốn” tự nhiên tích lũy trong đất sẽ dần cạn kiệt.

Chúng ta tính được mỗi mùa vụ thu về bao nhiêu. Nhưng ít khi tính sau mùa vụ ấy, đất đã mất đi bao nhiêu.

Đất “chết” từ từ nên rất khó nhận ra

Thoái hóa đất thường không dễ nhận thấy ngay lập tức.

Một mảnh đất vẫn có thể cho cây xanh, ra hoa, kết trái trong khi sức khỏe bên trong đã suy giảm. Đất không “kiệt sức” sau một mùa vụ mà yếu dần qua nhiều năm.

Ở vùng đồi núi, những trận mưa lớn có thể cuốn trôi lớp đất mặt cùng dinh dưỡng xuống chân dốc. Vùng ven biển chịu thêm áp lực từ xâm nhập mặn và hạn hán. Còn tại những vùng thâm canh, cây trồng liên tục lấy dinh dưỡng từ đất hết mùa vụ này sang mùa vụ khác.

Các nghiên cứu về thoái hóa đất tại Việt Nam chỉ ra nhiều nguyên nhân cùng tác động: xói mòn, rửa trôi, khô hạn, hoang mạc hóa, suy giảm độ phì, xâm nhập mặn cũng như phương thức khai thác và sử dụng đất chưa phù hợp.

Bản đồ thoái hóa đất cũng cho thấy sự khác biệt khá rõ giữa các vùng. Diện tích đất thoái hóa nặng tập trung nhiều ở Trung du và miền núi phía Bắc, khoảng 619.000ha; Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung khoảng 455.000ha. Đây cũng là hai khu vực có diện tích đất thoái hóa trung bình lớn.

Điều đó cho thấy không thể có một “toa thuốc” duy nhất cho mọi mảnh đất.

Đất dốc bị xói mòn cần một cách phục hồi khác với đất nhiễm mặn. Đất bạc màu sau nhiều năm thâm canh cũng không thể xử lý giống đất bị khô hạn.

Muốn chữa cho đất, trước hết phải biết đất đang “bệnh” gì.

Hành trình cứu đất

“Dân làm vườn tụi tôi làm gì có tiền hay rảnh rỗi đem đất đi xét nghiệm để biết đất mắc bệnh gì”, ông Nầy nói.

Đầu năm 2026, sau khi tham gia một lớp tập huấn của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp), ông mới hiểu rõ hơn tình trạng khu vườn của mình.

Theo những gì được hướng dẫn, đất trong vườn đã chai cứng, chua, pH dưới 5. Nhiều năm sử dụng phân hóa học liên tục mà không bổ sung lượng hữu cơ tương xứng là một trong những nguyên nhân khiến đất ngày càng suy giảm.

Ông bắt đầu thay đổi cách làm để cứu 6.000m² sầu riêng còn lại và phục hồi 2.000m² phải trồng mới.

Đầu mùa mưa, ông bón vôi nông nghiệp hoặc vôi nung khoảng 2 - 3kg mỗi cây mỗi năm để cải thiện độ chua của đất.

Sau đó, ông xới nhẹ mặt đất theo mép tán lá, bổ sung than sinh học (biochar), kết hợp tưới axit humic. Ông cũng tăng lượng phân hữu cơ vi sinh hoặc phân chuồng hoai mục lên khoảng 20 - 25kg mỗi cây mỗi năm.

Theo ông Nầy, sau quá trình phục hồi, 6.000m² sầu riêng cũ đã đâm chồi trở lại, rễ cám phát triển và cây tiếp tục mang trái.

Với 2.000m² trồng mới, ông rải vôi, xử lý đất trước khi xuống giống, đồng thời bón lót phân chuồng hoai mục kết hợp phân hữu cơ vi sinh ngay từ khi đắp mô kiến thiết, hạn chế sử dụng phân hóa học đậm đặc để tránh gây tổn thương bộ rễ non.

“Mảnh đất của tôi giờ giống như người bệnh vừa qua cơn nguy cấp do ngộ độc phân hóa học và hạn mặn. 6.000m² cây cũ đã hồi phục xanh tốt trở lại, còn 2.000m² trồng mới thì đang được chăm bằng phân hữu cơ ngay từ đầu”, ông Nầy nói.

Sự thay đổi trong khu vườn của ông cho thấy một nghịch lý khá phổ biến trong sản xuất: khi cây yếu, phản ứng đầu tiên của người trồng thường là bón thêm phân.

Nhưng nếu vấn đề nằm ở chính đất, tăng lượng phân bón chưa chắc làm cây khỏe hơn.

Thậm chí, người nông dân có thể rơi vào vòng luẩn quẩn: cây yếu thì tăng phân; chi phí tăng nhưng cây vẫn yếu; đất tiếp tục suy giảm lại càng phải tăng đầu vào.

Cuối cùng, cái phải cứu không chỉ là cây. Mà là đất.

Không thể làm nông nghiệp xanh trên nền đất suy kiệt

Ở góc độ quản lý, năm 2024, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phê duyệt Đề án nâng cao sức khỏe đất và quản lý dinh dưỡng cây trồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Mục tiêu của đề án là cải thiện chất lượng đất trồng trọt, sử dụng dinh dưỡng hợp lý, hạn chế suy thoái và hướng tới nền nông nghiệp xanh, phát thải thấp.

Một nội dung đáng chú ý là xây dựng cơ sở dữ liệu về chất lượng các loại đất chủ yếu, tiến tới hình thành bộ chỉ tiêu đánh giá “sức khỏe đất”, bản đồ dinh dưỡng và hệ thống quản lý dinh dưỡng cây trồng phù hợp với từng vùng.

Nếu hệ thống này đi vào thực tế sản xuất, cách người nông dân chăm sóc cây có thể thay đổi đáng kể.

Thay vì chỉ nhìn màu lá để đoán cây thiếu chất, hoặc thấy năng suất giảm thì tăng thêm phân bón, người trồng có thể biết rõ đất đang thiếu gì, thừa gì và cần phục hồi ra sao.

Đây không chỉ là câu chuyện kỹ thuật.

Khi đất yếu đi, cái giá phải trả hiện hữu ngay trong hóa đơn phân bón, tiền nước tưới, thuốc bảo vệ thực vật, công chăm sóc, năng suất cây trồng và cuối cùng là thu nhập của người nông dân.

Việt Nam có thể tiếp tục nâng sản lượng, tăng kim ngạch xuất khẩu và tạo ra nhiều giá trị hơn trên mỗi hecta đất. Nhưng một nền nông nghiệp muốn xanh hơn, giảm phát thải và phát triển bền vững khó có thể đứng vững nếu nền đất bên dưới ngày càng suy kiệt.

Sau những chuyến nông sản rời đồng ruộng, điều đáng quan tâm vì thế không chỉ sản lượng của mùa vụ hiện tại, mà là "di sản" thực sự của đất còn để lại cho vụ sau.