Dữ liệu mở đường cho quản trị số ngành nông nghiệp và môi trường

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang nỗ lực xây dựng, vận hành các cơ sở dữ liệu nhằm phục vụ công tác quản lý, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.
Dữ liệu đang trở thành nguồn lực quan trọng trong quản trị quốc gia. Với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cơ quan quản lý nhiều lĩnh vực có phạm vi rộng và liên quan chặt chẽ đến đời sống, sản xuất, việc xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu thống nhất không chỉ là số hóa hồ sơ, mà còn hướng tới đổi mới phương thức quản lý, điều hành dựa trên dữ liệu.
Nền móng cho quá trình này được đặt từ Dự án “Xây dựng, hoàn thiện Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường (giai đoạn I)”, được Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phê duyệt tại Quyết định số 1315/QĐ-BTNMT năm 2023.
Theo Quyết định 1315/QĐ-BTNMT, mục tiêu tổng quát của dự án là xây dựng, hoàn thiện hệ thống thông tin và hạ tầng dữ liệu số về tài nguyên và môi trường bằng các giải pháp công nghệ hiện đại, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin; đồng thời cung cấp dữ liệu phục vụ chỉ đạo, điều hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Nền tảng chuyển đổi số
Dự án “Xây dựng, hoàn thiện Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường (giai đoạn I)” có 5 nội dung đầu tư. Đó là: Xây dựng, hoàn thiện hành lang pháp lý phục vụ thu nhận, tạo lập, quảnlý, kết nối, chia sẻ toàn diện nguồn tài nguyên số về tài nguyên và môi trường; Xây dựng Hệ thống thông tin đất đai quốc gia (MPLIS); hạ tầng số, kết nối, an toàn thông tin cho CSDL đất đai quốc gia tập trung, thống nhất trên cơ sở kế thừa tối đa các nền tảng dùng chung; Xây dựng, hoàn thiện các CSDL, hệ thống thông tin (HTTT) quốc gia, quan trọng ngành; Xây dựng các nền tảng, hạ tầng quản trị, thu thập dữ liệu; Hoàn thiện nền tảng tích hợp, chia sẻ, kết nối dữ liệu với các bộ, ngành, địa phương.
Về nội dung đầu tiên liên quan đến xây dựng, hoàn thiện hành lang pháp lý, đến nay, các gói thầu đã được nghiệm thu. Đây là nhóm công việc có ý nghĩa nền tảng, bởi cùng với việc xây dựng hệ thống kỹ thuật, dự án phải hình thành các quy định về mô hình, cấu trúc, nội dung cơ sở dữ liệu; thu thập, quản lý, lưu trữ; kết nối, chia sẻ; khai thác, sử dụng cũng như bảo đảm an toàn, bảo mật dữ liệu.
Với 4 nội dung còn lại tương ứng với 4 hợp phần về dữ liệu nền móng quan trọng cho chuyển đổi số của ngành.
Đầu tiên là Hệ thống thông tin đất đai quốc gia (MPLIS) và hạ tầng số, kết nối, an toàn thông tin cho cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia tập trung, thống nhất. Hệ thống được thiết kế với các phân hệ phục vụ quản lý đất đai ở Trung ương và địa phương, giao dịch điện tử về đất đai, quản lý, vận hành, kết nối và chia sẻ dữ liệu quốc gia về đất đai. Dự án đồng thời triển khai kết nối, tích hợp cơ sở dữ liệu đất đai địa phương vào cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia, xây dựng công cụ chuyển đổi và đồng bộ dữ liệu.
Hệ thống này có ý nghĩa lớn đối với chuyển đổi số lĩnh vực đất đai. Khi dữ liệu được tập trung, chuẩn hóa và kết nối, thông tin đất đai có thể phục vụ không chỉ giải quyết thủ tục hành chính mà còn quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giá đất, giao dịch, chuyển mục đích sử dụng đất và giải quyết tranh chấp.
Hợp phần thứ hai là xây dựng, hoàn thiện các cơ sở dữ liệu quốc gia quan trọng của ngành. Trong đó có dữ liệu đất đai cấp Trung ương, khí tượng thủy văn, môi trường, địa chất và khoáng sản, tài nguyên biển và hải đảo, tài nguyên nước, viễn thám và biến đổi khí hậu.
Riêng với khí tượng thủy văn, dự án xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu quản lý tài liệu điện tử và mô hình cơ sở dữ liệu ứng dụng Big Data. Đồng thời, hệ thống được đầu tư các thiết bị bảo đảm an toàn thông tin và lưu trữ, số hóa dữ liệu.
Đối với địa chất và khoáng sản, phạm vi số hóa rất rộng, từ dữ liệu nền địa chất, địa vật lý, công trình khoan, bản đồ chuyên đề đến dữ liệu mẫu vật, tai biến địa chất, di sản địa chất, hồ sơ khai thác khoáng sản và hồ sơ cấp phép thăm dò.
Hợp phần thứ ba là xây dựng các nền tảng, hạ tầng quản trị và thu thập dữ liệu. Đây là lớp hạ tầng bảo đảm dữ liệu từ nhiều nguồn có thể được tiếp nhận, chuẩn hóa và cập nhật vào hệ thống.
Hợp phần thứ tư là hoàn thiện nền tảng tích hợp, chia sẻ, kết nối dữ liệu với các bộ, ngành, địa phương, đồng bộ với nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia. Dự án xây dựng dịch vụ tích hợp dữ liệu cho Cổng dữ liệu và dữ liệu mở, đồng thời xây dựng Cổng dữ liệu, Cổng dữ liệu mở về tài nguyên và môi trường.
Nhìn tổng thể, bốn hợp phần này tạo thành một chuỗi liên kết: có hạ tầng để lưu trữ, có hệ thống để quản trị, có kết nối để chia sẻ và có dữ liệu để khai thác. Đó cũng là điểm cốt lõi trong quan điểm về chuyển đổi số của ngành: dữ liệu chỉ thực sự phát huy giá trị khi được đưa vào các quy trình quản lý, điều hành và cung cấp dịch vụ.
Tiến tới đồng bộ về hạ tầng, dữ liệu, an toàn thông tin
Theo Cục Chuyển đổi số, đến nay dự án đã hình thành tương đối rõ các lớp cấu phần quan trọng: hạ tầng trung tâm dữ liệu, mạng, lưu trữ, an toàn thông tin, phần mềm chuyên ngành và các cơ sở dữ liệu. Đây là bước tiến quan trọng từ giai đoạn chuẩn bị, xây dựng sang giai đoạn tích hợp, liên thông và khai thác.
Ở nhóm hạ tầng, nhiều cấu phần quan trọng đã được triển khai. Gói thầu số 06 về đầu tư hạ tầng máy chủ, lưu trữ và chuyển mạch đã hoàn thành lắp đặt hệ thống tại hai địa điểm Hà Nội và Cần Thơ, đồng thời hoàn thành cài đặt hệ thống Exadata, sẵn sàng phối hợp với các gói thầu khác để nghiệm thu liên động và đào tạo.
Gói thầu số 07 về đầu tư thiết bị mạng cho trung tâm dữ liệu đã hoàn thiện cài đặt, cấu hình hệ thống. Gói thầu số 09 về đầu tư thiết bị bảo đảm an toàn thông tin cấp độ 4 đã hoàn thành nhiều cấu phần quan trọng như lắp đặt tường lửa, cân bằng tải, thiết lập kết nối giữa các hệ thống và triển khai các chính sách phục vụ các gói thầu khác.
Đối với hệ thống lưu trữ, gói thầu số 12 đã hoàn thành cấu hình thiết bị lưu trữ Dell Unity 480F, cấu hình và cấp phát dung lượng cho hệ thống Dell ECS; đồng thời chuẩn bị các điều kiện để kết nối với hệ thống máy chủ.
Những kết quả này cho thấy dự án không chỉ dừng ở thiết kế trên giấy mà đã hình thành các lớp hạ tầng vật lý, mạng, lưu trữ, bảo mật và nền tảng cần thiết để đưa các cơ sở dữ liệu vào vận hành.
Đặc biệt, với Gói 01 xây dựng Hệ thống thông tin đất đai quốc gia (MPLIS), đến thời điểm báo cáo, các bên đã bàn giao tài khoản và quyền quản trị, đồng thời tiếp tục hoàn thiện mô hình triển khai, sizing hạ tầng và phương án liên động với các gói khác.
Ở lĩnh vực địa chất và khoáng sản, phần mềm thu nhận, quản lý, tích hợp và chia sẻ dữ liệu đã hoàn thành kiểm thử, bàn giao để nhập dữ liệu lên hệ thống. Các bước xây dựng mô hình cơ sở dữ liệu, nhập dữ liệu, chuẩn hóa, chuyển đổi dữ liệu cũng được triển khai, tạo tiền đề để hình thành cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Mục tiêu cao nhất là quản trị và phục vụ
Theo ông Lê Phú Hà, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc xây dựng dựng cơ sở dữ liệu không phải xây được bao nhiêu hệ thống, mà dữ liệu từ những hệ thống đó được sử dụng hiệu quả đến đâu để phục vụ người dân, doanh nghiệp và nâng cao chất lượng quản trị nhà nước.
Hiện Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang quản lý 27 cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin phục vụ công tác quản lý nhà nước và chuyển đổi số toàn ngành. Khối dữ liệu này trải rộng trên nhiều lĩnh vực, từ đất đai, tài nguyên nước, môi trường đến khí tượng thủy văn, địa chất, biển và hải đảo, nông nghiệp...
Ông Lê Phú Hà cho biết, thời gian tới, ngành sẽ tập trung nâng cao nhận thức, trách nhiệm về dữ liệu; hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế tổ chức và phân định trách nhiệm quản trị dữ liệu theo Luật Dữ liệu và các văn bản hướng dẫn. Đồng thời, đẩy mạnh thu nhận dữ liệu số ngay từ nguồn; xây dựng, hoàn thiện, kết nối, đồng bộ cơ sở dữ liệu của ngành với Trung tâm Dữ liệu quốc gia.
Cùng với đó, Bộ chú trọng phát triển các nền tảng số, nền tảng dữ liệu, kho dữ liệu và cơ sở dữ liệu dùng chung; xây dựng nền tảng thu nhận, chia sẻ dữ liệu thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Mô hình quản trị dữ liệu cũng sẽ tiếp tục được kiện toàn, gắn với yêu cầu bảo đảm an ninh dữ liệu, an toàn mạng, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và ứng dụng các giải pháp số.
Đặc biệt, phát triển Chính phủ số, đổi mới phương thức làm việc, giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công trực tuyến dựa trên dữ liệu vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy hoàn thiện các cơ sở dữ liệu, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy giá trị của dữ liệu trong thực tiễn.
Đại tá Nguyễn Thành Vĩnh, Phó Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia (C12), Bộ Công an đánh giá, lĩnh vực nông nghiệp và môi trường là lĩnh vực liên quan đến rất nhiều thủ tục hành chính. Vì vậy, nếu có đầy đủ dữ liệu, có thể cắt giảm thành phần hồ sơ; người dân không phải kê khai lại những thông tin đã có. Người dân cũng giảm việc đi lại, trong khi cán bộ giảm thời gian, công sức xác minh, tra cứu và giải quyết hồ sơ. Qua đó, chi phí xã hội được tiết giảm. Quan trọng hơn, dữ liệu sau khi được chuẩn hóa sẽ có thể chia sẻ cho các bộ, ngành, doanh nghiệp và người dân khai thác, sử dụng.
Đến nay, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã hoàn thành kết nối, đồng bộ 12 cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành với Trung tâm Dữ liệu quốc gia (được Bộ Công an ghi nhận tại Biên bản ghi nhớ ngày 06/4/2026); tiếp tục triển khai kết nối 4 hệ thống thông tin và 9 CSDL theo Nghị quyết 214/NQ-CP về Trung tâm Dữ liệu quốc gia trong năm 2026. Các kết quả trên tạo nền tảng quan trọng để hình thành hệ sinh thái dữ liệu số ngành nông nghiệp và môi trường phục vụ quản trị ngành dựa trên dữ liệu.
Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook
Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.