🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Vật tư nông nghiệp

EPR và bài toán xử lý bao bì thuốc BVTV, giảm ô nhiễm

Cập nhật: Báo Nông nghiệp và Môi trường
EPR và bài toán xử lý bao bì thuốc BVTV, giảm ô nhiễm

EPR và bài toán xử lý bao bì thuốc BVTV, giảm ô nhiễm

Ngày 14/4, Diễn đàn “Phổ biến quy định EPR và cơ chế hỗ trợ hoạt động xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật, phân bón tại các địa phương” được tổ chức, với sự tham gia của đông đảo cơ quan quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.

Diễn đàn do Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng UBND tỉnh Đắk Lắk chỉ đạo. Cục Môi trường, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk phối hợp Báo Nông nghiệp và Môi trường tổ chức.

Sự kiện nhằm cập nhật, phổ biến các quy định mới về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), đồng thời làm rõ cơ chế hỗ trợ cho hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), phân bón sau sử dụng. Đây được xem là một trong những vấn đề môi trường cấp thiết tại nhiều địa phương.

Diễn ra từ 8h30 sáng 14/4, tại Khách sạn Sài Gòn - Ban Mê, diễn đàn kết hợp hình thức trực tiếp và trực tuyến, với khoảng 200 đại biểu tham dự trực tiếp và 300 đại biểu tham gia trực tuyến. Ngoài cơ quan quản lý, diễn đàn còn đón đại diện ác viện nghiên cứu chuyên ngành, các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức sản xuất, kinh doanh thuốc BVTV, phân bón, các hiệp hội ngành hàng như EPR Việt Nam, CropLife Việt Nam, cùng các chuyên gia, nhà khoa học liên quan.

Một số nội dung chính được thảo luận như: tổng quan chính sách thu gom, xử lý bao bì thuốc BVTV, phân bón, những điểm mới của quy định EPR, thực trạng triển khai tại khu vực Tây Nguyên, các mô hình thu gom, xử lý hiệu quả trong và ngoài nước, cơ chế tài chính, trách nhiệm của các bên liên quan.

Phiên thảo luận giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và địa phương sẽ làm rõ các vướng mắc trong quá trình triển khai, đồng thời đề xuất giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, hướng tới phát triển nông nghiệp xanh và bền vững.

Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) là một công cụ quan trọng trong quản lý chất thải hiện đại. Đây là chính sách yêu cầu các nhà sản xuất và nhập khẩu phải chịu trách nhiệm đối với sản phẩm của mình không chỉ ở khâu sản xuất, tiêu thụ mà còn ở giai đoạn sau khi sản phẩm trở thành rác thải.

Cơ chế này xuất hiện từ những năm 1990 tại châu Âu, trong bối cảnh nhiều quốc gia đối mặt với khủng hoảng rác thải và chi phí xử lý ngày càng lớn. Sau đó, EPR dần được mở rộng sang các nước OECD, rồi lan sang Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nền kinh tế đang phát triển. Qua thời gian, EPR không chỉ là công cụ xử lý rác thải mà còn trở thành nền tảng thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, buộc doanh nghiệp phải thay đổi cách thiết kế sản phẩm theo hướng giảm vật liệu khó tái chế và tăng khả năng tái sử dụng.

Tại Việt Nam, EPR được chính thức đưa vào khuôn khổ pháp lý với Luật Bảo vệ môi trường 2020. Luật quy định rõ trách nhiệm của nhà sản xuất, nhập khẩu trong việc tái chế sản phẩm, bao bì hoặc đóng góp tài chính để hỗ trợ xử lý chất thải.

Tổng thuật: Diễn đàn phổ biến EPR đối với thuốc BVTV, phân bón

Tiếp đó, Nghị định số 08/2022/NĐ-CP được ban hành nhằm cụ thể hóa các quy định, xác định danh mục sản phẩm, bao bì phải thực hiện EPR, tỷ lệ tái chế bắt buộc cũng như cơ chế đóng góp vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam. Cùng năm, Quyết định số 01/2022/QĐ-TTg đưa ra lộ trình thực hiện, đồng thời quy định chi tiết về định mức chi phí tái chế và quy trình kê khai, báo cáo.

Theo lộ trình, từ năm 2024, doanh nghiệp phải thực hiện trách nhiệm tái chế đối với nhiều loại bao bì phổ biến như nhựa, giấy, kim loại, thủy tinh, cùng với các sản phẩm như pin, ắc quy, thiết bị điện, điện tử, lốp xe. Những năm tiếp theo, phạm vi áp dụng tiếp tục được mở rộng. Doanh nghiệp có thể lựa chọn tự tổ chức tái chế, thuê đơn vị trung gian hoặc đóng góp tài chính để cơ quan nhà nước thực hiện thay.

Việc triển khai EPR được kỳ vọng mang lại nhiều lợi ích cả về môi trường và kinh tế. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, không ít doanh nghiệp còn gặp khó khăn do chi phí tăng, thiếu thông tin hoặc chưa sẵn sàng về hệ thống quản lý.

Diễn đàn tại Đắk Lắk, vì thế, được kỳ vọng sẽ tạo cầu nối giữa chính sách và thực tiễn, góp phần nâng cao nhận thức, tăng cường phối hợp giữa các bên trong quản lý chất thải nông nghiệp, đặc biệt là bao bì thuốc BVTV và phân bón - yếu tố quan trọng trong bảo vệ môi trường nông thôn hiện nay.

Trước đó, vào cuối tháng 3/2025, Cục Môi trường cũng phối hợp với Báo Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội thảo "Tập huấn triển khai thực hiện quy định trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu”.

Tài liệu tham khảo diễn đàn TẠI ĐÂY.

12h30

EPR và bài toán xử lý bao bì thuốc BVTV, giảm ô nhiễm

Theo bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, trong các bao bì thuốc BVTV luôn tồn dư một lượng hóa chất nhất định. Nếu không được xử lý đúng cách, các chất này sẽ tích tụ trong đất, thấm vào nguồn nước mặt và nước ngầm, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của nông dân và người tiêu dùng.

Không chỉ vậy, hệ sinh thái nông nghiệp cũng bị tác động tiêu cực khi các vi sinh vật có lợi trong đất bị tiêu diệt, còn các loài thủy sinh như cá, tôm, cua có thể bị nhiễm độc hoặc chết nếu tiếp xúc với nguồn nước ô nhiễm. Những hệ lụy này không diễn ra ngay lập tức mà tích tụ theo thời gian, gây ra những rủi ro lâu dài cho môi trường và sản xuất nông nghiệp.

Bên cạnh yếu tố môi trường và sức khỏe, việc xử lý bao bì thuốc BVTV còn gắn chặt với yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững và kinh tế tuần hoàn. Điều này cũng phù hợp với cam kết quan trọng của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, khi các thị trường xuất khẩu ngày càng đòi hỏi cao về tiêu chuẩn môi trường và trách nhiệm sản xuất.

“Việc thu gom và xử lý bao bì thuốc BVTV ngày càng quan trọng và đòi hỏi kỹ thuật cao. Sự tham gia đông đảo và các ý kiến thảo luận sôi nổi tại hội nghị cho thấy mức độ quan tâm ngày càng lớn của các bên liên quan, từ nông dân, doanh nghiệp đến cơ quan quản lý. Đây được xem là động lực quan trọng để cơ quan quản lý tiếp tục hoàn thiện và triển khai chính sách hiệu quả hơn trong thời gian tới”, bà chia sẻ.

Thời gian qua, nhiều địa phương như Đồng Tháp, Đắk Lắk đã triển khai nhiều mô hình hiệu quả như “cánh đồng không rác thải”, chương trình đổi bao bì lấy quà, xây dựng hàng nghìn điểm thu gom và tổ chức nhiều lớp tập huấn cho người dân. Doanh nghiệp và hợp tác xã cũng tích cực tham gia, từng bước hình thành ý thức trách nhiệm trong cộng đồng sản xuất nông nghiệp.

Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được, hệ thống thu gom và xử lý vẫn còn nhiều hạn chế. Mạng lưới thu gom chưa hoàn chỉnh, cơ chế xử lý chưa thống nhất, trong khi nhận thức của một bộ phận người dân vẫn cần tiếp tục được nâng cao.

Để nâng cao hiệu quả thu gom và xử lý, lãnh đạo Cục Trồng trọt và BVTV cho biết sẽ đẩy mạnh nghiên cứu, phân loại rõ tính chất từng loại chất thải nhằm lựa chọn phương thức xử lý phù hợp, vừa đảm bảo an toàn môi trường, vừa tối ưu chi phí cho người dân. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý sẽ tiếp thu các ý kiến thực tiễn, hoàn thiện cơ sở khoa học và xây dựng chính sách linh hoạt, góp phần hình thành hệ thống thu gom, xử lý đồng bộ, hiệu quả và khả thi hơn trong thời gian tới.

12h05

Số lượng các lớp tập huấn EPR chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế

Bà Đặng Thị Thủy (ảnh), Phó Giám đốc Sở NN-MT Đắk Lắk cho biết, diễn đàn đã thu hút hơn 300 điểm cầu trực tuyến và 200 đại biểu tham dự trực tiếp, cho thấy mức độ quan tâm rất lớn của các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và người dân. “Đây là một diễn đàn trao đổi được tổ chức đúng thời điểm, khi vấn đề an toàn thực phẩm và phát triển nông nghiệp bền vững đang được đặc biệt chú trọng ở các cấp”, bà Thủy nói.

Theo bà Thủy, để giải quyết hai bài toán nói trên, không thể tách rời ba trụ cột: cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và nông dân. Các ý kiến từ chuyên gia và cơ quan quản lý đều hướng tới mục tiêu chung tìm ra giải pháp căn cơ nhằm triển khai EPR một cách thuận lợi, hiệu quả.

Để EPR sớm đi vào cuộc sống, các địa phương cần những hướng dẫn cụ thể, minh bạch và dễ tiếp cận, nhất là về cơ chế tài chính, kinh phí và lộ trình thực hiện. Việc triển khai cần bảo đảm đồng bộ từ cấp tỉnh xuống cấp xã, đồng thời mang lại hiệu quả thực chất ở cơ sở.

Trong đó, công tác thu gom và xử lý bao bì, chất thải nông nghiệp vẫn là vấn đề cấp thiết. Sở NN-MT Đắk Lắk sẽ tham mưu UBND tỉnh xây dựng hệ thống thu gom, xử lý đồng bộ, gắn trách nhiệm cụ thể cho chính quyền cấp xã, hợp tác xã và các đại lý vật tư nông nghiệp. Hiện toàn tỉnh có hơn 3.300 cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp, do đó việc quản lý và phân định trách nhiệm là không hề đơn giản.

Bà Thủy cũng đề nghị các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất bao bì, cần quan tâm hơn đến thiết kế và xử lý bao bì sau sử dụng, nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường. Trách nhiệm không thuộc riêng bên nào mà cần sự phối hợp đồng bộ giữa nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân.

Ngoài ra, công tác đào tạo, tập huấn và tuyên truyền cần được đẩy mạnh hơn nữa. Với quy mô hơn 824.000 ha đất nông nghiệp, số lượng các lớp tập huấn hiện nay vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của người dân.

Cùng với đó, củng cố nguồn nhân lực quản lý. Với hơn 3.300 cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp nhưng lực lượng cán bộ thanh tra, kiểm tra còn mỏng, việc giám sát toàn diện là rất khó khăn. Theo bà Thủy, đây là bài toán cần sớm được tháo gỡ để nâng cao hiệu quả quản lý trong thời gian tới.

11h55

Được phép vận chuyển liên tỉnh để xử lý bao bì thuốc BVTV

Theo ông Nguyễn Hữu Chiến, Giám đốc HTX dịch vụ nông nghiệp Tân Thuận Đông, từ góc độ người trực tiếp sản xuất, các chủ trương về thu gom, xử lý bao bì thuốc BVTV là rất đúng và cần thiết, tuy nhiên thực tế triển khai vẫn còn một “nút thắt” lớn chưa được tháo gỡ, đó là khâu tiêu hủy.

Ông Nguyễn Hữu Chiến cho biết, người dân và hợp tác xã hoàn toàn có thể tổ chức thu gom, thậm chí đã chủ động đề xuất phương tiện, thiết bị để thực hiện. Tuy nhiên, sau khi thu gom, vấn đề lớn nhất là không có nơi tiếp nhận và xử lý, dẫn đến tình trạng “gom rồi nhưng không biết đưa đi đâu”. Ngay cả khi đại lý vật tư nông nghiệp có trách nhiệm thu mua, với lượng bao bì thuốc BVTV phát sinh lớn, chỉ sau vài ngày đã tồn đọng hàng trăm kg, đặt ra câu hỏi về trách nhiệm lưu giữ và xử lý tiếp theo.

“Bất cập này còn tạo ra nghịch lý là người dân xả thải ra môi trường có thể chưa bị xử phạt nghiêm, trong khi doanh nghiệp hoặc đơn vị thu gom nếu lưu trữ lượng lớn chất thải mà chưa xử lý kịp thời lại có nguy cơ bị xử phạt nặng”, ông Chiến nêu thực trạng.

Theo đại diện HTX, chính vì thiếu khâu tiêu hủy nên việc thu gom nếu làm không đồng bộ có thể phản tác dụng, thậm chí gây ô nhiễm nghiêm trọng hơn. Thực tế tại địa phương cho thấy, một số bể chứa sau vài ngày đã trở thành điểm tập kết rác quá tải, gây ô nhiễm thay vì giải quyết vấn đề.

Từ đó, ông nhấn mạnh cần ưu tiên giải quyết khâu xử lý, tiêu hủy trước, sau đó mới tổ chức thu gom bài bản, nếu không việc thu gom sẽ khó bền vững và dễ phát sinh hệ lụy.

Giải đáp vấn đề này, ông Nguyễn Thành Yên, Phó Trưởng phòng Chính sách - Pháp chế (Cục Môi trường - Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết, hiện Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã cấp phép cho hơn 100 doanh nghiệp xử lý chất thải. Đối với chất thải nguy hại như bao bì thuốc BVTV, hoàn toàn có thể vận chuyển liên tỉnh để xử lý, không nhất thiết phải có cơ sở xử lý ngay tại địa phương. Trường hợp địa phương chưa có lò đốt hoặc nhà máy xử lý, có thể chuyển đến các tỉnh khác có đủ điều kiện tiếp nhận.

Theo ông Nguyễn Thành Yên, về nguyên tắc, các phương án xử lý đều đã có, vấn đề chủ yếu nằm ở chi phí tổ chức thực hiện. Đồng thời, ông cũng làm rõ thêm rằng, nếu doanh nghiệp chủ động tổ chức hệ thống thu gom, thu hồi sản phẩm theo cơ chế “đặt cọc - hoàn trả” và thực hiện hiệu quả, thì sẽ không thuộc phạm vi thực hiện nghĩa vụ EPR.

Khi đó, doanh nghiệp có thể được miễn các nghĩa vụ đóng góp tài chính hoặc trách nhiệm tương đương trong khuôn khổ EPR, do đã tự thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình.

11h50

Không thể quy trách nhiệm cho người nông dân

Ông Trần Đức Thanh, Giám đốc Công ty CP Công nghệ cao phát triển công nông nghiệp Đắk Lăk, nhấn mạnh: Không thể quy trách nhiệm cho người nông dân. Trách nhiệm chính phải thuộc về doanh nghiệp sản xuất bao bì và hệ thống phân phối, trong đó các đại lý cần tham gia thu hồi bao bì sau sử dụng, với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương.

Thực tế hiện nay, do thiếu cơ chế và nguồn lực, nhiều nông dân vẫn phải đốt bao bì, gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy, ông Thanh đề xuất 2 giải pháp: Thứ nhất, doanh nghiệp sản xuất xử lý, đại lý trung gian thu hồi và chính quyền địa phương hỗ trợ điều phối. Thứ hai, doanh nghiệp có thể trích một phần kinh phí từ sản phẩm bán ra để hỗ trợ người dân hoặc ủy quyền cho đại lý mua lại rác thải.

“Thậm chí, nếu được cấp quyền tái chế và có nguồn kinh phí dồi dào,doanh nghiệp sẵn sàng đứng ra thu mua, tái chế toàn bộ lượng rác thải. Với các đại lý thiếu nhiệt huyến trong thu hồi thì cần xử phạt nghiêm khắc nhằm tạo ra cơ chế vững chắc, mang lại lợi ích kép cho cả nông dân lẫn môi trường”, ông phát biểu.

11h40

Chi phí đầu vào vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn

Ông Lê Tấn Dũng (ảnh), Giám đốc HTX HTX Thăng Tiến Krông Pắc (Đắk Lắk) cho biết, với diện tích sản xuất nhiều tiềm năng - hơn 824,000 ha, tỉnh nói chung và đơn vị nói riêng định hướng tập trung sản xuất theo hướng hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn và giảm phát thải. Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất, chi phí đầu vào vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn, đặc biệt là phân bón và vật tư nông nghiệp.

Như với sầu riêng, tổng chi phí đầu tư khoảng 1 triệu đồng thì tới 80% dành cho phân bón, 20% chi phí nhân công. Điều này đồng nghĩa với việc lượng rác thải từ bao bì phân bón phát sinh rất lớn. Với quy mô 100 ha, nếu tổng đầu tư khoảng 100 triệu đồng thì riêng chi phí vật tư đầu vào đã chiếm 80 triệu đồng, kéo theo lượng bao bì phân bón thải ra đáng kể (ước tính 7-8 kg/đơn vị diện tích). Nếu mở rộng lên quy mô 3.000 ha, lượng bao bì có thể lên tới khoảng 21.000 kg.

Theo ông Dũng, vấn đề đáng lo ngại hiện nay là đầu ra cho bao bì thuốc BVTV này vẫn chưa rõ ràng. Phần lớn bao bì sau sử dụng bị đốt hoặc xử lý thủ công, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe nông dân.

Từ thực tiễn đó, ông kiến nghị cần làm rõ vai trò của các bên liên quan. Người nông dân là đối tượng tiêu thụ sản phẩm và cần được bảo vệ quyền lợi. Các đơn vị sản xuất phải có trách nhiệm hơn trong việc thu hồi, xử lý bao bì. Trong đó, cơ quan quản lý nhà nước cần định hướng rõ ràng về giá trị của bao bì trong chuỗi sản xuất, cũng như cơ chế bù đắp chi phí cho nông dân khi tham gia thu gom, xử lý, nhằm hướng tới một nền nông nghiệp bền vững.

11h30

Doanh nghiệp cần đóng góp một khoản tài chính bắt buộc

Theo bà Đào Thu Vinh, Giám đốc Điều hành Hiệp hội CropLife Việt Nam, CropLife hiện đang đại diện cho các doanh nghiệp hàng đầu thế giới trong lĩnh vực nghiên cứu, phát triển và sản xuất giải pháp bảo vệ thực vật, với 8 công ty thành viên đang hoạt động tại Việt Nam.

Từ góc độ của Hiệp hội, CropLife hoàn toàn ủng hộ việc triển khai cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR). Theo bà Vinh, đây không chỉ là một cách tiếp cận về môi trường bền vững mà còn phù hợp với tôn chỉ hoạt động mà CropLife và các doanh nghiệp thành viên theo đuổi trong hơn 20 năm qua, đó là quản lý sản phẩm theo vòng đời.

“Nghĩa là trách nhiệm của doanh nghiệp không dừng lại ở việc đưa sản phẩm đến tay nông dân và hướng dẫn sử dụng hiệu quả mà còn tiếp tục kéo dài đến khâu thu gom, xử lý sau sử dụng, bảo đảm sản phẩm không gây tác động tiêu cực đến môi trường”, đại diện CropLife Việt Nam phân tích.

Từ thực tiễn triển khai các hoạt động tại địa phương, CropLife nhận thấy dù trách nhiệm thu gom, xử lý bao bì thuốc BVTV thuộc về địa phương nhưng việc huy động nguồn lực tài chính vẫn là một điểm nghẽn lớn. Chính hạn chế này khiến nhiều nơi gặp khó khăn trong việc xây dựng và duy trì hệ thống thu gom, xử lý một cách hiệu quả và bền vững.

Trong bối cảnh đó, cơ chế EPR được đánh giá là giải pháp quan trọng để tháo gỡ vướng mắc. Bởi theo quy định, với mỗi sản phẩm đưa ra thị trường, doanh nghiệp phải đóng góp một khoản tài chính bắt buộc. Khi tổng hợp trên quy mô toàn thị trường, nguồn đóng góp này sẽ hình thành một quỹ đủ lớn để hỗ trợ các địa phương triển khai hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý bao bì sau sử dụng.

Theo bà Đào Thu Vinh, chính cơ chế tài chính mang tính bắt buộc và ổn định này là nền tảng để xây dựng một hệ thống quản lý chất thải bao bì thuốc BVTV mang tính dài hạn, thay vì phụ thuộc vào nguồn ngân sách hạn chế như trước đây, qua đó góp phần bảo đảm tính bền vững trong công tác bảo vệ môi trường nông nghiệp.

11h20

Nông dân xả rác ra môi trường vì lo ngại mùi hóa chất độc hại

Ông Lê Văn Vương, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Vương Thành Công cho rằng, các chương trình giảm thiểu rác thải trong nông nghiệp cần thêm những giải pháp cụ thể để tạo chuyển biến rõ rệt.

Theo ông, điều quan trọng nhất là thay đổi cách tiếp cận, thay vì đổ lỗi giữa các bên, cần xây dựng tinh thần Nhà nước và nông dân cùng làm, cùng hưởng ứng. Khi có sự đồng thuận, việc giảm rác thải mới có thể đạt hiệu quả bền vững.

Phát triển nông nghiệp sạch không thể tách rời việc khuyến khích sử dụng các sản phẩm thân thiện môi trường. Do đó, thuốc bảo vệ thực vật sinh học là một hướng đi cần được thúc đẩy. Kèm với đó là việc chuyển đổi bao bì sang các vật liệu dễ phân hủy như giấy, thay vì nhựa truyền thống, nhằm giảm áp lực rác thải sau sử dụng.

“Cần chú trọng hơn đến khâu thu gom và tái chế”, ông Vương đề xuất. Các chai lọ, bao bì nhựa sau khi sử dụng hoàn toàn có thể được tái sử dụng trong đời sống hoặc bán lại cho các đơn vị thu gom phế liệu. Tuy nhiên, thói quen xả thải trực tiếp ra môi trường vẫn phổ biến do nhiều nông dân lo ngại mùi hóa chất và tính độc hại khi mang các vật dụng này về tập kết.

Từ đó, ông đề xuất cần có hệ thống điểm thu gom an toàn, quy trình xử lý rõ ràng và cơ chế khuyến khích phù hợp để người dân yên tâm tham gia. Khi những rào cản về tâm lý và điều kiện thực tế được tháo gỡ, việc thay đổi hành vi sẽ diễn ra tự nhiên hơn, góp phần giảm thiểu ô nhiễm trong sản xuất nông nghiệp.

11h10

Cần làm rõ việc phân bổ chi phí trong cơ chế EPR

Ông Nguyễn Văn Sơn, Chủ tịch Hội doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc BVTV Việt Nam (VIPA), bày tỏ sự quan tâm của doanh nghiệp trong việc phân bổ kinh phí để thu gom và xử lí bao bì thuốc BTVT.

Nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đã chủ động phối hợp với cơ quan chuyên môn để triển khai các chương trình thu gom, xử lý bao bì tại 22 tỉnh ngay cả trước khi có quy định cụ thể. Tuy nhiên, hiệu quả vẫn bị hạn chế bởi nhận thức của một bộ phận nông dân còn thấp, cùng sự thiếu rõ ràng trong phân công trách nhiệm giữa các bên liên quan.

Ông Sơn cho rằng cần làm rõ việc phân bổ chi phí trong cơ chế EPR, đặc biệt là nguồn lực dành cho thu gom và vận chuyển, đồng thời xác định cụ thể cơ quan chịu trách nhiệm cấp phép và tổ chức vận chuyển, vai trò của chính quyền địa phương và hệ thống đại lý.

“Quy trình tiêu hủy cần được chuẩn hóa, từ khâu tập kết về kho bãi đến xử lý cuối cùng. Tôi đề xuất tăng cường tập huấn, đào tạo với giáo trình rõ ràng, từ đầu tư nguồn lực đến tổ chức tuyên truyền tại cơ sở nhằm nâng cao nhận thức cho người dân. Bên cạnh đó, thiết lập hệ thống tiêu chuẩn và giám sát chặt chẽ toàn bộ quá trình, cùng các chính sách khuyến khích để tạo động lực thực hiện đồng bộ”, ông phát biểu.

Chủ tịch VIPA nhấn mạnh cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý và địa phương, đồng thời bày tỏ các doanh nghiệp luôn cam kết đồng hành trong hoạt động xử lý bao bì thuốc BVTV nhằm nâng cao hiệu quả và tính bền vững.

11h00

Người nông dân chưa đủ kiến thức và điều kiện để xử lý rác đúng cách

Bà Triệu Thị Châu, Giám đốc HTX Nông nghiệp và Dịch vụ Bình Minh cho rằng, vấn đề rác thải nông nghiệp đang gặp điểm nghẽn ở cơ chế xử lý đến tận cùng.

Theo bà, nhiều địa phương đã có bể chứa bao bì thuốc BVTV. Tuy nhiên, rác sau khi gom lại “bị kẹt” vì không ai chịu trách nhiệm vận chuyển đi xử lý. Hệ quả là rác tồn đọng, người dân buộc phải tự xoay xở như đốt tại vườn, chở nhờ xe rác sinh hoạt, thậm chí mang sang khu vực khác.

“Là người trực tiếp xả rác, nhưng người nông dân chưa có đủ kiến thức và điều kiện để xử lý đúng cách”, bà Châu nói, đồng thời nhấn mạnh không thể đẩy toàn bộ trách nhiệm cho người sản xuất nông nghiệp.

Giải pháp, theo bà, phải bắt đầu từ chuỗi cung ứng. Bao bì xuất phát từ doanh nghiệp cần được thu hồi trở lại hệ thống của chính họ. Bà đề xuất cơ chế ký quỹ - hoàn tiền. Theo đó, nông dân trả lại bao bì cho đại lý và nhận lại khoản chi phí tương ứng. Đại lý đóng vai trò điểm trung chuyển, doanh nghiệp chịu trách nhiệm tái chế hoặc xử lý.

“Người dân sẵn sàng làm nếu có động lực và thuận tiện”, bà nói tiếp và nhấn mạnh, rằng cách tiếp cận nên dựa trên sự tự nguyện thay vì áp đặt.

Vai trò của giáo dục mang tính dài hạn. Vị giám đốc HTX đề xuất, ý thức phân loại rác nên được hình thành từ ở bậc tiểu học và tiếp tục duy trì, bồi đắp ở các cấp học sau. Việc tái đào tạo, đặc biệt với nhóm sinh viên - lực lượng có thể quay lại làm nông nghiệp - là yếu tố quan trọng để tạo thay đổi bền vững.

10h50

Tỷ lệ thu gom bao bì thuốc BVTV và chất thải rắn còn rất thấp

TS Phạm Tuấn Anh (ảnh), nguyên Giám đốc Sở NN-PTNT Đắk Nông cho biết, vấn đề rác thải trong nông nghiệp, đặc biệt tại các vùng sản xuất lớn như Tây Nguyên, đang tích tụ âm thầm và để lại hệ lụy lâu dài đối với đất và môi trường.

Đằng sau những “mùa vàng” bội thu là hàng chục nghìn tấn bao bì thuốc BVTV và chất thải rắn phát sinh mỗi năm, trong khi tỷ lệ thu gom còn rất thấp, chỉ khoảng 30% và thậm chí dưới 10% ở vùng sâu, vùng xa. Phần lớn lượng rác này quay trở lại môi trường, thẩm thấu dần vào đất và nguồn nước, gây suy thoái hệ sinh thái.

Theo ông Phạm Tuấn Anh, chúng ta không chỉ đo lường sản lượng thu hoạch mà còn phải tính đến lượng chất thải phát sinh và “sức khỏe” của đất như một chỉ số phát triển bền vững.

“Nông dân không tạo ra rác mà chỉ mua các giải pháp để bảo vệ cây trồng. Sự đứt gãy hệ thống nằm ở việc thiếu khâu xử lý sau thu gom, cùng các khoảng trống tài chính của vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại”, ông nhấn mạnh.

TS Phạm Tuấn Anh đề xuất phía nhà sản xuất đóng góp nguồn lực cho toàn bộ vòng đời sản phẩm, bao gồm cả giai đoạn sau sử dụng. Cụ thể, minh bạch và phân bổ trực tiếp nguồn quỹ EPR tới các tổ thu gom cấp cơ sở thay vì bị kẹt lại trong thủ tục; gắn trách nhiệm thu hồi bao bì với điều kiện kinh doanh của các đại lý. Đồng thời, thí điểm cơ chế ký quỹ môi trường, trong đó doanh nghiệp sẽ được hoàn trả chi phí dựa trên tỷ lệ thu hồi thực tế.

10h40

Nhiều nông dân có ý thức thu gom nhưng không biết đưa rác về đâu

Theo ông Nguyễn Ngọc Trai (ảnh), đại diện Công ty TNHH Proton Fusion, với tư cách là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, đơn vị đánh giá cao vai trò của cơ chế EPR trong thu gom, xử lý chất thải, đặc biệt là bao bì thuốc bảo vệ thực vật và phân bón tại các địa phương.

“Làm nông nghiệp không chỉ hướng đến mục tiêu kinh tế mà còn phải gắn với trách nhiệm bảo vệ môi trường. Vì vậy, cần quan tâm đầy đủ đến ‘vòng đời’ của sản phẩm, từ sản xuất đến thu gom, xử lý sau sử dụng”, ông Nguyễn Ngọc Trai nhấn mạnh.

Từ thực tế đi khảo sát tại nhiều địa phương như Đắk Lắk, khu vực Tây Nguyên và miền Tây, đại diện doanh nghiệp cho biết phần lớn rác thải nông nghiệp, đặc biệt là bao bì thuốc BVTV, vẫn bị xả trực tiếp ra kênh mương, cống rãnh hoặc gom lại rồi đốt bỏ. Thực trạng này không chỉ gây ô nhiễm môi trường đất, nước mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của chính người nông dân và cộng đồng xung quanh.

Trên tinh thần đó, Proton Fusion, là đơn vị tiên phong trong lĩnh vực phân bón cao phân tử, đang nỗ lực cung cấp các giải pháp giúp giảm chi phí sản xuất cho nông dân, đồng thời chú trọng yếu tố môi trường. Doanh nghiệp ưu tiên sử dụng các loại bao bì có khả năng tái chế, đồng thời thúc đẩy hệ thống đại lý tham gia thu gom sau sử dụng.Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng tăng cường truyền thông thông qua các video, bài viết và hoạt động hỗ trợ trực tiếp, nhằm hướng dẫn nông dân thu gom rác thải ngay tại vườn.

Tuy nhiên, theo ông Trai, một khó khăn lớn hiện nay là thiếu điểm tập kết khi nhiều nông dân có ý thức thu gom nhưng không biết đưa rác về đâu, dẫn đến việc rác vẫn bị bỏ lại ngoài môi trường.“Là doanh nghiệp mới tham gia thị trường, Proton Fusion cam kết sẽ phân phối sản phẩm đi đôi với phân bổ lợi nhuận hợp lý, đồng thời đồng hành cùng các chủ trương của Nhà nước, đặc biệt là cơ chế EPR, nhằm góp phần xây dựng hệ thống thu gom, xử lý chất thải nông nghiệp hiệu quả và bền vững”, ông Nguyễn Ngọc Trai khẳng định.

10h30

Cơ chế EPR không phải là thuế, phí

Làm rõ thêm về cơ chế đóng góp và hướng dẫn thực hiện Nghị định 110/2026/NĐ-CP, ông Đỗ Xuân Thuấn (ảnh), đại diện Văn phòng EPR Việt Nam, cho biết cơ chế EPR không phải là thuế, phí mà là khoản đóng góp tài chính của doanh nghiệp hỗ trợ xử lý chất thải rắn.

Theo Nghị định 05/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 08/2022/NĐ-CP, trách nhiệm thực hiện EPR đã có điều chỉnh quan trọng. Nếu trước đây doanh nghiệp kê khai và thực hiện trách nhiệm trong cùng một năm, thì nay được chuyển sang cơ chế mới: trách nhiệm của một năm sẽ được thực hiện chậm nhất đến ngày 31/3 của năm kế tiếp, áp dụng cho kỳ nghĩa vụ của năm liền trước. Quy định này cũng được kế thừa và tiếp tục áp dụng trong Nghị định 110/2026/NĐ-CP.

Trong năm 2026, việc kê khai đang đi vào ổn định và doanh nghiệp chưa gặp khó khăn thực hiện trên cơ sở số liệu thực tế năm 2025 và đang dần hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ EPR.

Theo ông Thuấn, hệ thống kê khai hiện đã được rà soát, đảm bảo doanh nghiệp có thể thực hiện trước thời hạn 31/3 hằng năm. Trong quá trình kê khai, nếu phát sinh vướng mắc liên quan đến xác định đối tượng hoặc vấn đề kỹ thuật, Cục Môi trường giao Văn phòng EPR hỗ trợ; các vấn đề pháp lý do Cục Môi trường sẽ hướng dẫn, nhằm đảm bảo doanh nghiệp hoàn thành kê khai đúng hạn và đúng quy định.

Đối với đề xuất hỗ trợ xử lý chất thải, các địa phương cần lập theo đúng mẫu quy định. Bên cạnh nội dung phân bổ cho xử lý chất thải rắn sinh hoạt, việc thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật cần báo cáo hai thông số quan trọng gồm diện tích đất trồng cây và diện tích thuộc vùng có điều kiện kinh tế khó khăn. Nghị định cũng quy định rõ UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng nguồn kinh phí hỗ trợ đúng mục đích, bảo đảm công khai, minh bạch. Ông Thuấn cho biết, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ hướng dẫn các tỉnh biểu mẫu báo cáo tiến độ sử dụng khoản kinh phí đã nhận và đã sử dụng.

9h45

Khung pháp lý và sự tham gia đầy đủ là chìa khóa

EPR cần được hiểu là cơ chế trách nhiệm thay vì nghĩa vụ tài chính đơn thuần, theo ông Andrew Ward (ảnh), Giám đốc Quản lý sử dụng sản phẩm Croplife. Khi toàn ngành cùng thực hiện, hệ thống sẽ đạt hiệu quả kinh tế theo quy mô, đồng thời tạo nền tảng cho mô hình kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp. Qua đó, hạn chế rủi ro đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng.

Đặc thù của bao bì thuốc BVTV khiến việc quản lý phức tạp hơn các loại rác thải khác. Người nông dân phải tuân thủ quy trình sử dụng an toàn như rửa bao bì nhiều lần, đục thủng để tránh tái sử dụng và đưa về điểm thu gom riêng biệt. EPR, vì thế, không thể tách rời hoạt động đào tạo, nâng cao nhận thức và sự phối hợp giữa các bên liên quan, từ doanh nghiệp, chính quyền đến hệ thống thu gom và tái chế.

Để triển khai hiệu quả, đại diện CropLife nhấn mạnh cần xây dựng cơ chế minh bạch và công bằng, trong đó mọi doanh nghiệp đều phải đóng góp tương ứng với lượng bao bì đưa ra thị trường. Nguồn tài chính từ EPR cần được sử dụng trực tiếp cho hoạt động thu gom và xử lý, đồng thời khuyến khích thiết kế bao bì dễ tái chế, giảm tác động môi trường. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, với khung pháp lý rõ ràng và sự tham gia đầy đủ của các bên, công tác bảo vệ môi trường có thể đạt hiệu quả cao. Điển hình như Brazil với tỷ lệ thu gom lên tới 90%.

Ông Andrew Ward tin Việt Nam có điều kiện để tiếp cận và điều chỉnh các mô hình này, từng bước xây dựng hệ thống quản lý bao bì thuốc BVTV bền vững, phù hợp thực tiễn trong nước.

9h15

Đồng Tháp đưa quy định về thu gom, xử lý bao bì thuốc BVTV vào tiêu chí xây dựng nông thôn mới

Từ thực tiễn sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, tỉnh Đồng Tháp đang đối mặt với áp lực đáng kể từ lượng bao bì thuốc bảo vệ thực vật phát sinh sau sử dụng. Theo ông Lê Chí Thiện (ảnh), Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đồng Tháp, toàn tỉnh có trên 661.000 ha lúa và khoảng 134.000 ha cây lâu năm, cây ăn trái. Mỗi năm sử dụng hơn 3.100 tấn thuốc BVTV và trên 1 triệu tấn phân bón. Quy mô này kéo theo lượng chất thải lớn, đòi hỏi phải có giải pháp quản lý phù hợp.

Trên cơ sở đó, Đồng Tháp đã cụ thể hóa các quy định về thu gom, xử lý bao bì thuốc BVTV vào thực tiễn, trước đây chủ yếu theo Thông tư liên tịch số 05/2016/TTLT-BNNPTNT-BTNMT của Bộ NN-PTNT, Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc thu gom, vận chuyển và xử lý bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng, đồng thời lồng ghép vào tiêu chí môi trường trong Chương trình xây dựng nông thôn mới.

“Đây là căn cứ quan trọng trong đánh giá, công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới và nông thôn mới nâng cao, đặc biệt tại các địa bàn sản xuất nông nghiệp tập trung. Với quy định cụ thể, như vùng trồng lúa từ 3 ha hoặc cây ăn trái từ 10 ha phải có bể chứa bao bì thuốc BVTV, chính quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đã vào cuộc mạnh mẽ, góp phần nâng cao ý thức người dân trong thu gom, xử lý sau sử dụng”, ông Lê Chí Thiện thông tin.

Song song với đó, công tác tuyên truyền, tập huấn được triển khai đồng bộ. Từ năm 2022 đến nay, trên cơ sở thỏa thuận hợp tác giữa Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Sở Nông nghiệp và Môi trường Đồng Tháp và Hiệp hội Croplife Việt Nam, chương trình sử dụng thuốc BVTV an toàn, hiệu quả được duy trì thường xuyên. Giai đoạn 2022-2025, tỉnh đã tổ chức 2 lớp tập huấn cho 100 cán bộ kỹ thuật, 98 lớp cho 4.140 nông dân, 21 lớp cho 1.227 đại lý vật tư nông nghiệp, đồng thời cấp phát tài liệu, trang bị bảo hộ lao động và lắp đặt pano tại các vùng sản xuất trọng điểm.

Cùng với nâng cao nhận thức, tỉnh xây dựng 8 mô hình trên các cây trồng chủ lực như lúa, hoa cảnh, sầu riêng, ớt, xoài, cây có múi và rau màu, với 689 nông dân tham gia trên diện tích 482,7 ha. Nội dung triển khai bao gồm đào tạo nguyên tắc sử dụng thuốc BVTV, thực hành IPM, quy trình phòng trừ dịch hại, ghi chép nhật ký sản xuất, mã số vùng trồng và tập huấn trực tiếp ngoài đồng ruộng.

Hạ tầng thu gom cũng được đầu tư với 55 bộ thùng chứa, các bể chứa tại khu sản xuất và 1 nhà kho tập kết bao bì trước khi tiêu hủy. Việc thu gom được tổ chức định kỳ 3-6 tháng/lần, đưa về xử lý tập trung. Trong giai đoạn 2022-2023, tỉnh đã phát động 44 đợt thu gom (36 đợt tại các huyện, 8 đợt trong mô hình), thu gom khoảng 21,5 tấn bao bì thuốc BVTV. Các hình thức như “đổi rác lấy quà” tiếp tục được duy trì, tạo động lực để người dân tham gia.

Theo ông Lê Chí Thiện, một trong những thuận lợi của Đồng Tháp là sự tham gia đồng bộ của cả hệ thống chính trị và việc địa phương đã thu hút được nhà máy xử lý chất thải nguy hại, giúp giảm chi phí xử lý và chủ động hơn trong tổ chức thực hiện. Bên cạnh đó, sự phối hợp của doanh nghiệp trong các chương trình thu gom cũng góp phần mở rộng phạm vi triển khai.

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất vẫn là thay đổi thói quen, ý thức của người dân, là quá trình cần thời gian dài. Đồng thời, chi phí xử lý chất thải nguy hại rất cao, khoảng 30 triệu đồng/tấn, trong khi nguồn lực địa phương còn hạn chế, chủ yếu dựa vào ngân sách.

Trong bối cảnh đó, việc triển khai Nghị định 110/2026/NĐ-CP về cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất được kỳ vọng sẽ tạo thêm nguồn lực cho các địa phương.

Đại diện tỉnh Đồng Tháp kiến nghị cần sớm có hướng dẫn cụ thể về phân bổ, sử dụng nguồn kinh phí hỗ trợ; làm rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành và doanh nghiệp; đồng thời thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả việc thực hiện nghĩa vụ của các chủ thể liên quan.

9h05

Siết chặt trách nhiệm doanh nghiệp và hoàn thiện hạ tầng

Tỉnh Đắk Lắk có hơn 845.000 ha đất nông nghiệp, với trên 3.100 cơ sở kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật (BVTV); mỗi năm sử dụng khoảng 2,38 triệu tấn thuốc và phát sinh hơn 200 tấn bao bì.

Theo ông Nguyễn Hắc Hiển (ảnh), Chi Cục trưởng Chi cục Trồng trọt và BVTV tỉnh Đắk Lắk, dù đã tổ chức nhiều lớp tập huấn và ký hợp đồng xử lý chất thải nguy hại, công tác thu gom vẫn còn hạn chế. Hạ tầng thiếu đồng bộ, bể chứa xuống cấp, thu gom không thường xuyên. Một số địa phương chưa chủ động triển khai, trong khi người dân còn thiếu kiến thức, thông tin.

Trước thực trạng này, ông Hiển đề xuất tiếp tục tuyên truyền đi vào thực chất, nội dung cụ thể, dễ hiểu và gắn với thực hành. Các lớp tập huấn phải hướng dẫn trực tiếp cách thu gom, phân loại và xử lý an toàn.

Song song đó, Chi Cục trưởng khuyến khích áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và tăng sử dụng thuốc BVTV sinh học. Đồng thời, thúc đẩy phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp sạch, hạn chế tối đa phân bón và thuốc BVTV hóa học.

“Công tác kiểm tra, giám sát cần được thực hiện thường xuyên hơn. Các vi phạm về môi trường phải xử lý nghiêm để tạo tính răn đe. Trách nhiệm của các cơ sở kinh doanh thuốc BVTV cần quy định rõ. Các đơn vị này phải tham gia vào quá trình thu gom bao bì sau sử dụng, thay vì chỉ dừng ở khâu bán hàng.

Về hạ tầng, tôi cho rằng nên ưu tiên đầu tư các bể chứa và khu lưu trữ tạm thời, sửa chữa các công trình xuống cấp. Hệ thống giao thông nội đồng cũng cần được cải thiện để thuận lợi cho vận chuyển. Tỉnh cũng cần bố trí kinh phí ổn định hằng năm, trong khi chính quyền cấp xã chủ động tổ chức thu gom và xử lý theo quy định”, ông chia sẻ.

Đại diện Sở NN-MT Đắk Lắk nhấn mạnh sự phối hợp đa ngành, đồng bộ, tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm. Khi các giải pháp được thực hiện nhất quán, công tác quản lý bao bì thuốc BVTV sẽ hiệu quả hơn, từ đó giảm ô nhiễm môi trường và hướng tới nền nông nghiệp bền vững.

8h55

Trước 25/6, địa phương gửi đề xuất hỗ trợ xử lý chất thải rắn về Bộ NN-MT

Hạn cuối ngày 25/6, các địa phương gửi báo cáo thông qua Sở NN-MT, tham mưu UBND cấp tỉnh về nhu cầu hỗ trợ xử lý chất thải rắn, làm cơ sở tổng hợp, trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét. Thông tin này được ông Nguyễn Thành Yên (ảnh), Phó Trưởng phòng Chính sách - Pháp chế, Cục Môi trường cho biết khi hướng dẫn triển khai cơ chế hỗ trợ năm 2026.

Theo quy định, trình tự và mốc thời gian thực hiện được xây dựng khá chặt chẽ. Thực thi Nghị định 07/2025/TT-BTNMT, trong vòng 30 ngày kể từ khi được ban hành, UBND cấp tỉnh phải gửi văn bản đề nghị hỗ trợ tài chính.

Trong 45 ngày kể từ khi Nghị định có hiệu lực, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ phê duyệt, đồng thời công khai phương án phân bổ kinh phí. 30 ngày kể từ khi phương án được phê duyệt, Quỹ bảo vệ môi trường sẽ chuyển kinh phí về tài khoản quỹ cấp tỉnh để triển khai.

Việc đề xuất hỗ trợ được thực hiện theo hướng minh bạch. Các tỉnh lưu ý cần cung cấp đầy đủ thông tin về nhu cầu xử lý, bao gồm diện tích đất trồng trọt, quy mô dân số và các dữ liệu liên quan. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý sẽ áp dụng công thức để xác định mức hỗ trợ. Những địa phương có diện tích canh tác lớn, phát sinh nhiều bao bì thuốc BVTV sẽ được áp dụng hệ số hỗ trợ cao hơn.

Về chuyên môn, quy định quản lý chất thải cũng có nhiều thay đổi so với trước đây. “Theo quy chuẩn mới, các cơ sở sản xuất, cung ứng phải thực hiện phân loại theo quy định cập nhật, dán nhãn xác nhận sản phẩm không vượt ngưỡng chất thải nguy hại”, ông Yên chỉ rõ.

Về trình tự thực hiện đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để hỗ trợ xử lý chất thải, đại diện Cục Môi trường cho hay, trước ngày 1/4 hàng năm, các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm kê khai số tiền đóng góp tài chính hỗ trợ xử lý chất thải đối với các sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật đã sản xuất hoặc nhập khẩu và đưa ra thị trường trong năm liền trước. Việc kê khai được thực hiện trên Hệ thống thông tin EPR quốc gia tại địa chỉ epr.mae.gov.vn.

Trước ngày 20/4, các đơn vị phải nộp đầy đủ số tiền đã kê khai vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam theo quy định.

8h45

Còn hơn 550 tấn bao bì thuốc BVTV chưa được xử lý

Trong ba năm 2022-2024, cả nước đã thu gom gần 2.500 tấn bao gói thuốc BVTV sau sử dụng, nhưng vẫn còn hơn 550 tấn chưa được xử lý.

Thông tin được ông Lương Ngọc Quang (ảnh), Phó Trưởng phòng An toàn thực phẩm và Môi trường (Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật) nêu. Theo ông, bao bì trong sản xuất nông nghiệp hiện chia thành 2 nhóm: bao bì phân bón và bao bì thuốc bảo vệ thực vật.

Trong khi bao bì phân bón chủ yếu được xử lý như chất thải rắn thông thường, có thể tái chế hoặc tái sử dụng trong đời sống, thì bao bì thuốc BVTV bị xếp vào chất thải nguy hại do chứa tồn dư hóa chất độc, cần quản lý nghiêm ngặt từ thu gom đến xử lý.

Hệ thống pháp lý hiện hành áp dụng nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, theo ông Quang. Các quy định yêu cầu bao bì sau sử dụng phải được thu gom vào bể chứa chuyên dụng, vận chuyển đến nơi xử lý trong vòng 12 tháng và chỉ các đơn vị có giấy phép mới được xử lý. Thực tế triển khai cho thấy nhiều chuyển biến. Trong giai đoạn 3 năm trên, hơn 11.700 lớp tập huấn được tổ chức, thu hút trên 600.000 người tham gia, hơn 450.000 bể chứa được xây dựng tại các địa phương.

Tuy nhiên, trong tổng lượng thu gom, chỉ khoảng 1.400 tấn bao bì được xử lý đúng quy định, hơn 500 tấn do người dân tự tiêu hủy và còn hơn 20% chưa được xử lý. Ông Quang đánh giá, nguyên nhân lớn nhất vẫn nằm ở nhận thức và thói quen. Tình trạng vứt bỏ bao bì trên đồng ruộng, kênh mương còn phổ biến, phản ánh thói quen “tiện đâu vứt đấy”, gây nguy cơ ô nhiễm đất và nguồn nước. Bên cạnh đó, hạ tầng thu gom chưa đáp ứng yêu cầu, nhiều bể chứa thiếu hoặc xây dựng không đúng chuẩn.

Vấn đề kinh phí được xem là điểm nghẽn lớn nhất. “Nhiều địa phương thu gom bao bì nhưng không đủ nguồn lực để vận chuyển và xử lý theo quy định, trong khi cơ chế hỗ trợ còn thiếu rõ ràng”, ông Quang nói.

Đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đề nghị, tăng cường tuyên truyền để thay đổi hành vi người dân, hoàn thiện hạ tầng và tháo gỡ vướng mắc về cơ chế tài chính, qua đó bảo đảm quy trình xử lý chất thải nguy hại được thực hiện đúng và bền vững.

8h30

EPR không phải là một loại thuế mà là cơ chế trách nhiệm

Phát biểu khai mạc Diễn đàn, ông Trần Văn Cao, Phó Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường cho biết, thực hiện chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Báo đã phối hợp với Cục Môi trường, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cùng Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk tổ chức Diễn đàn “Phổ biến quy định EPR đối với sản phẩm thuốc BVTV, phân bón và cơ chế hỗ trợ hoạt động xử lý bao bì thuốc BVTV tại các địa phương”.

Diễn đàn diễn ra trong bối cảnh Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 110/2026/NĐ-CP, là dấu mốc quan trọng trong việc hoàn thiện khung pháp lý về cơ chế Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) tại Việt Nam.

Theo ông Cao, EPR là cách tiếp cận chính sách môi trường tiến bộ, mở rộng trách nhiệm của doanh nghiệp đối với toàn bộ vòng đời sản phẩm, bao gồm cả giai đoạn sau sử dụng. Qua đó trở thành công cụ quan trọng thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững.

Tại Việt Nam, cơ chế EPR đã được luật hóa trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và từng bước cụ thể hóa qua các văn bản dưới luật. Tuy nhiên, phải đến khi Nghị định 110/2026/NĐ-CP được ban hành, khung pháp lý cho EPR mới tương đối đầy đủ, đồng bộ và rõ ràng, từ nghĩa vụ đóng góp của doanh nghiệp đến cơ chế phân bổ, sử dụng nguồn lực hỗ trợ địa phương triển khai hoạt động tái chế, xử lý chất thải sau tiêu dùng.

“Đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, cơ chế này ngày càng giữ vai trò quan trọng, giúp nhà sản xuất, nhập khẩu thực hiện trách nhiệm trong giảm thiểu tác động của hoạt động canh tác tới môi trường, là một trụ cột của phát triển nông nghiệp bền vững”, ông Trần Văn Cao nhấn mạnh, đồng thời lưu ý, EPR không phải là một loại thuế mà là cơ chế trách nhiệm, trong đó nghĩa vụ đóng góp cần được thực hiện công bằng giữa các doanh nghiệp.

Với tính chất đặc thù, bao bì thuốc bảo vệ thực vật là loại chất thải khó thu gom, xử lý. Vì vậy, việc thiết lập cơ chế tài chính và tổ chức phù hợp không chỉ góp phần bảo vệ môi trường mà còn bảo vệ sức khỏe cộng đồng, hướng tới nền nông nghiệp bền vững.

Theo lãnh đạo Báo Nông nghiệp và Môi trường, Diễn đàn nhằm cập nhật, phổ biến các quy định mới về EPR, đặc biệt với bao bì thuốc BVTV và phân bón; đồng thời hướng dẫn, làm rõ cơ chế đóng góp, phân bổ và sử dụng kinh phí cho hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý bao bì sau sử dụng tại địa phương. Bên cạnh đó, Diễn đàn tạo không gian đối thoại đa chiều giữa cơ quan quản lý, địa phương và doanh nghiệp để trao đổi, tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai.

Ông Trần Văn Cao bày tỏ kỳ vọng, thông qua các phiên trình bày và thảo luận, đại biểu sẽ có cái nhìn đầy đủ, rõ ràng hơn về EPR, cũng như nắm bắt được quy trình và công cụ cần thiết để triển khai hiệu quả tại địa phương. Quan trọng hơn, Diễn đàn hướng tới tăng cường sự hiểu biết và đồng thuận giữa các bên liên quan; thúc đẩy áp dụng thực tế cơ chế EPR, đặc biệt tại khu vực Tây Nguyên; và từng bước hình thành hệ thống thu gom, xử lý bao bì thuốc BVTV bền vững, hiệu quả trên phạm vi toàn quốc.

Với vai trò cơ quan báo chí ngành, Báo Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục đồng hành cùng các cơ quan quản lý, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp trong công tác truyền thông, lan tỏa và thúc đẩy triển khai hiệu quả các chính sách quan trọng như EPR, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nông nghiệp xanh, bền vững của Việt Nam.