Giá cà phê hôm nay 16/7/2026: Đắk Nông lên 97.300 đồng/kg, sàn London tăng hơn 1,6%

Giá cà phê hôm nay 16/7/2026: Đắk Nông lên 97.300 đồng/kg, sàn London tăng hơn 1,6%
Giá cà phê trong nước ngày 16/7/2026
Sau lần cập nhật mới nhất, giá cà phê nhân xô tại bốn địa phương trọng điểm của Tây Nguyên cùng tăng 1.200 đồng/kg. Biên độ giá toàn vùng hiện là 600 đồng/kg.
Đắk Nông giữ vị trí cao nhất với 97.300 đồng/kg. Đắk Lắk và Gia Lai cùng đứng ở mức 97.200 đồng/kg, còn Lâm Đồng đạt 96.700 đồng/kg.
So với mốc 100.000 đồng/kg, mức giá cao nhất tại Tây Nguyên hiện thấp hơn 2.700 đồng/kg. Giá thấp nhất cũng chỉ còn cách ngưỡng này 3.300 đồng/kg.
Đắk Lắk và Gia Lai cùng đạt 97.200 đồng/kg
Giá cà phê tại Đắk Lắk sáng nay tăng từ 96.000 đồng/kg lên 97.200 đồng/kg. Sau khi cộng thêm 1.200 đồng/kg, địa phương này chỉ còn thấp hơn Đắk Nông 100 đồng/kg.
Gia Lai cũng có mức tăng tương đương, đạt 97.200 đồng/kg. Hai khu vực hiện nằm trong nhóm có giá thu mua cao của Tây Nguyên.
Tại Lâm Đồng, giá cà phê được nâng lên 96.700 đồng/kg. Dù vẫn là mức thấp nhất trong bảng khảo sát, giá tại đây đã trở lại rõ rệt trên vùng 96.000 đồng/kg.
Khu vực Đắk Nông cũ tiếp tục dẫn đầu sau khi giá tăng lên 97.300 đồng/kg. Đây cũng là mốc gần nhất với vùng giá tâm lý 100.000 đồng/kg.
Bảng giá cà phê trong nước mới nhất
| Khu vực | Giá ngày 16/7/2026 | Mức điều chỉnh |
|---|---|---|
| Đắk Nông | 97.300 đồng/kg | Tăng 1.200 đồng/kg |
| Đắk Lắk | 97.200 đồng/kg | Tăng 1.200 đồng/kg |
| Gia Lai | 97.200 đồng/kg | Tăng 1.200 đồng/kg |
| Lâm Đồng | 96.700 đồng/kg | Tăng 1.200 đồng/kg |
Giá tăng đồng đều cho thấy thị trường trong nước đang bám khá sát diễn biến của robusta London. Khi hợp đồng gần phục hồi, các đơn vị thu mua tại Tây Nguyên thường nhanh chóng điều chỉnh giá để phù hợp với thị trường xuất khẩu.
Tuy nhiên, người trồng và doanh nghiệp vẫn cần theo dõi thêm các phiên tiếp theo. Diễn biến tăng trong một ngày có thể bị đảo ngược nếu nguồn cung từ Brazil được tung ra nhanh hoặc sàn London không giữ được các mốc hỗ trợ quan trọng.
Thị trường cà phê thế giới phục hồi
Giá cà phê thế giới kết thúc phiên 15/7 trong sắc tăng. Robusta London có mức tăng nổi bật, còn arabica New York phục hồi thận trọng hơn.
Thị trường đang được hỗ trợ bởi ba yếu tố chính gồm đồng real Brazil mạnh lên, thu hoạch vụ mới chậm hơn năm ngoái và lượng cà phê tồn kho đạt chuẩn còn thấp.
Robusta tháng 9 lên 3.911 USD/tấn
Hợp đồng robusta giao tháng 9/2026 tăng 62 USD/tấn, lên 3.911 USD/tấn. Tỷ lệ tăng đạt 1,61%.
Việc kỳ hạn này vượt lại 3.900 USD/tấn có ý nghĩa đáng chú ý đối với các quốc gia xuất khẩu robusta lớn, trong đó có Việt Nam. Đây là vùng giá có thể tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp nâng giá thu mua nếu được duy trì ổn định.
Hợp đồng robusta giao tháng 11/2026 tăng 64 USD/tấn, tương đương 1,68%, lên 3.864 USD/tấn.
Mức tăng của tháng 11 cao hơn tháng 9 cả về số USD lẫn tỷ lệ phần trăm. Diễn biến đồng thuận giữa hai kỳ hạn cho thấy nhu cầu mua xuất hiện trên nhiều vị thế giao hàng.
Arabica tăng tối đa 1,95 US cent/pound
Giá arabica tháng 9/2026 trên sàn New York tăng 0,65 US cent/pound, đạt 326,75 US cent/pound. Tỷ lệ tăng là 0,2%.
Kỳ hạn tháng 12/2026 tăng 1,95 US cent/pound, tương đương 0,63%, lên 309,95 US cent/pound.
Arabica tăng chậm hơn robusta nhưng vẫn giữ được xu hướng tích cực. Việc hai sàn cùng đi lên giúp giảm bớt áp lực tâm lý sau các phiên biến động mạnh trước đó.
Đồng real Brazil lên cao nhất bốn tuần
Đồng real tăng giá so với USD là một trong những nguyên nhân khiến nguồn cung cà phê Brazil ra thị trường chậm lại.
Cà phê quốc tế được giao dịch chủ yếu bằng USD. Khi quy đổi sang đồng real, tỷ giá bất lợi hơn khiến người bán tại Brazil nhận được ít nội tệ hơn. Nông dân và doanh nghiệp vì vậy có xu hướng trì hoãn giao dịch để chờ tỷ giá tốt hơn.
Hoạt động bán hàng giảm trong ngắn hạn đã tạo thêm lực đẩy cho robusta London và arabica New York.
Brazil hoàn thành 38,6% vụ thu hoạch
Hoạt động thu hoạch cà phê tại Brazil đang được cải thiện nhờ lượng mưa giảm. Dù vậy, tiến độ hiện vẫn thấp hơn nhiều so với cùng thời điểm năm ngoái.
Theo Cooxupé, tính đến ngày 10/7, các thành viên của hợp tác xã mới thu hoạch được 38,6% sản lượng dự kiến trong vụ năm 2026.
Tỷ lệ này thấp hơn mức 49,3% vào cùng kỳ năm 2025, tương ứng chậm hơn 10,7 điểm phần trăm.
Tiến độ thu hoạch thấp khiến lượng cà phê vụ mới sẵn sàng cho xuất khẩu chưa tăng mạnh. Đây là một trong những nguyên nhân giúp giá cà phê giữ được lực hỗ trợ.
Nếu thời tiết tiếp tục thuận lợi, khối lượng thu hoạch có thể tăng nhanh trong những tuần cuối tháng 7. Khi đó, lượng hàng được bán ra cũng có khả năng lớn hơn.
Xuất khẩu cà phê Brazil tăng trong tháng 6
Brazil xuất khẩu 2,64 triệu bao cà phê nhân xanh trong tháng 6, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước.
Lượng arabica xuất khẩu đạt khoảng 2 triệu bao, tăng 9,6%. Robusta đạt 633.478 bao, tăng mạnh 32,7%.
Đối với nhóm sản phẩm chế biến, lượng xuất khẩu đạt 422.831 bao, cao hơn 35,7% so với tháng 6 năm trước. Phần lớn mức tăng đến từ cà phê hòa tan.
Tổng cộng, Brazil xuất khẩu 3,06 triệu bao cà phê trong tháng 6, tăng 16,9% so với cùng kỳ.
Xuất khẩu cả niên vụ vẫn giảm hơn 15%
Kết quả tích cực trong tháng 6 chưa đảo ngược được xu hướng giảm của toàn niên vụ 2025–2026.
Xuất khẩu cà phê nhân xanh cả niên vụ đạt 34,53 triệu bao, giảm 16,6%. Tổng khối lượng xuất khẩu, bao gồm cà phê chế biến, đạt 38,46 triệu bao, giảm 15,7%.
Sau năm 2024 có lượng xuất khẩu cao kỷ lục, nguồn hàng dự trữ của Brazil đã giảm. Vụ mùa chịu tác động của thời tiết cũng khiến khả năng bổ sung tồn kho bị hạn chế.
Tồn kho cà phê đạt chuẩn còn thấp
Nguồn cà phê đạt chuẩn tại các điểm tiêu thụ và sàn giao dịch chưa được bổ sung mạnh. Tình trạng tồn kho thấp làm giảm áp lực bán và hạn chế nguy cơ giá lao dốc.
Các doanh nghiệp đang tính toán mức chênh lệch giữa giá cà phê Brazil trên thị trường thực và giá kỳ hạn. Chỉ khi chênh lệch đủ hấp dẫn, lượng hàng mới có động lực được đưa lên sàn để phân loại và cấp chứng nhận.
Nguồn bổ sung tăng sẽ giúp thị trường bớt căng thẳng. Nếu lượng hàng không cải thiện, robusta vẫn có cơ sở duy trì ở vùng giá cao.
Mốc 3.900 USD/tấn quyết định diễn biến ngắn hạn
Triển vọng giá cà phê Tây Nguyên trong các phiên tới sẽ phụ thuộc nhiều vào hợp đồng robusta tháng 9. Việc kỳ hạn này giữ được trên 3.900 USD/tấn có thể mở đường cho giá trong nước tiếp tục tăng.
Tại thị trường nội địa, 97.300 đồng/kg là mốc gần nhất cần theo dõi. Nếu sàn London kéo dài đà phục hồi, giá tại Đắk Nông có thể thu hẹp thêm khoảng cách với ngưỡng 100.000 đồng/kg.
Rủi ro giảm giá vẫn tồn tại nếu Brazil đẩy nhanh thu hoạch, nông dân tăng bán, tồn kho được bổ sung hoặc đồng real quay đầu suy yếu.