Giá cao su neo cao, xuất khẩu vẫn chịu sức ép

Giá xuất khẩu cao su của Việt Nam duy trì ở mức cao trong nửa đầu năm 2026, song nhu cầu suy yếu từ thị trường Trung Quốc khiến lượng xuất khẩu tiếp tục giảm.
Giá bán tăng nhưng lượng xuất khẩu giảm
Sau giai đoạn tăng mạnh đầu tháng 7, giá cao su thế giới đã có dấu hiệu điều chỉnh trên một số thị trường. Tuy nhiên, mặt bằng giá vẫn duy trì ở mức cao nhờ giá dầu thô tăng và chi phí sản xuất cao su tổng hợp vẫn ở mức lớn, qua đó tiếp tục hỗ trợ giá cao su tự nhiên.
Theo Bản tin thị trường nông, lâm, thủy sản (Bộ Công Thương) đến ngày 17/7, giá cao su RSS3 kỳ hạn giao tháng 8/2026 trên Sở Giao dịch Hàng hóa Osaka (OSE) đạt 418,5 yên/kg, tăng 1,1% so với cuối tháng trước. Tại Thái Lan, giá RSS3 cùng kỳ hạn đạt 97,4 baht/kg, tăng 1,1%, trong khi trên Sàn Giao dịch Tương lai Thượng Hải (SHFE), hợp đồng giao tháng 8 đạt 16.770 nhân dân tệ/tấn, tăng 1,2%. Trong tuần kết thúc ngày 17/7, giá dầu thô thế giới tăng gần 12%, tiếp tục tạo lực đỡ cho thị trường cao su tự nhiên.
Mặt bằng giá cao trên thị trường thế giới cũng góp phần duy trì giá xuất khẩu cao su của Việt Nam ở mức tích cực. Trong 6 tháng đầu năm 2026, giá xuất khẩu bình quân đạt 1.924 USD/tấn, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước. Riêng tháng 6, giá xuất khẩu bình quân đạt 2.130 USD/tấn, tăng 4,9% so với tháng trước và cao hơn 27,7% so với cùng kỳ năm 2025 - mức cao nhất được ghi nhận trong nhiều năm trở lại đây.
Tuy nhiên, lợi thế về giá chưa đủ bù đắp sự sụt giảm về lượng xuất khẩu. Theo số liệu của Cục Hải quan, trong tháng 6/2026, Việt Nam xuất khẩu 114.010 tấn cao su, trị giá 242,83 triệu USD, tăng 54,1% về lượng và 61,6% về trị giá so với tháng trước nhờ nguồn cung từ vụ khai thác mới. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm 2025, lượng xuất khẩu vẫn giảm 20,6%, trong khi trị giá chỉ tăng nhẹ 1,4%. Lũy kế 6 tháng đầu năm, xuất khẩu cao su đạt 638.445 tấn, trị giá khoảng 1,23 tỷ USD, giảm 8% về lượng và giảm 4,6% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
Sức ép từ thị trường Trung Quốc
Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của cao su Việt Nam, nhưng nhu cầu nhập khẩu từ thị trường này đang suy giảm đáng kể.
Trong tháng 6/2026, Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc 52.809 tấn cao su, trị giá 117,33 triệu USD, giảm 44,9% về lượng và gần 26% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm, xuất khẩu sang thị trường này đạt 381.094 tấn, trị giá 730,85 triệu USD, giảm 21,5% về lượng và 18,1% về trị giá so với cùng kỳ. Sự sụt giảm này khiến tỷ trọng Trung Quốc trong tổng lượng cao su xuất khẩu của Việt Nam giảm từ 70% trong nửa đầu năm 2025 xuống còn khoảng 59,7% trong cùng kỳ năm nay.
Xu hướng giảm nhập khẩu không chỉ diễn ra với cao su Việt Nam. Trong 5 tháng đầu năm 2026, Trung Quốc nhập khẩu 3,44 triệu tấn cao su các loại, trị giá 6,46 tỷ USD, giảm 3,6% về lượng và 7,7% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Việt Nam vẫn là nguồn cung cao su lớn thứ hai của Trung Quốc sau Thái Lan, song lượng nhập khẩu từ Việt Nam giảm 6,9%, kéo thị phần từ 13% xuống còn 12,6%, trong khi thị phần của Thái Lan tăng từ 36,9% lên 37,6%.
Theo Cục Xuất nhập khẩu, giá cao su thế giới ở mức cao khiến nhiều doanh nghiệp Trung Quốc ưu tiên sử dụng lượng hàng dự trữ thay vì tăng nhập khẩu. Đến ngày 12/7, tồn kho cao su tự nhiên tại Trung Quốc còn khoảng 1,21 triệu tấn. Cùng với đó, ngành sản xuất lốp xe bước vào mùa thấp điểm, nhiều doanh nghiệp tăng cường bảo dưỡng nhà máy trong điều kiện thời tiết nắng nóng, trong khi lượng tồn kho thành phẩm còn cao khiến hoạt động mua nguyên liệu chủ yếu phục vụ nhu cầu trước mắt.
Ở chiều ngược lại, một số thị trường ghi nhận mức tăng trưởng tích cực. Indonesia vươn lên trở thành thị trường xuất khẩu cao su lớn thứ hai của Việt Nam với 47.782 tấn trong 6 tháng đầu năm, tăng 143,7% so với cùng kỳ. Xuất khẩu sang Malaysia tăng 52,2%, Ấn Độ tăng 22,8%, Hàn Quốc tăng 19,4% và Đài Loan tăng 18,5%. Đáng chú ý, lượng cao su xuất khẩu sang Mexico tăng hơn 300%, dù quy mô thị trường còn khiêm tốn.
Theo đánh giá của Cục Xuất nhập khẩu, mặt bằng giá cao su thế giới vẫn được hỗ trợ bởi giá dầu thô, song triển vọng xuất khẩu của Việt Nam sẽ tiếp tục phụ thuộc lớn vào nhu cầu nhập khẩu từ Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, việc mở rộng thị trường sang Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, Hàn Quốc, Mexico và các thị trường tiềm năng khác sẽ góp phần giảm phụ thuộc vào một thị trường, nâng cao khả năng thích ứng trước những biến động của thương mại thế giới.