Giá nông sản hôm nay 19/10: Cà phê ít biến động, hồ tiêu neo cao, lúa gạo ổn định

Giá nông sản hôm nay 19/10: Cà phê ít biến động, hồ tiêu neo cao, lúa gạo ổn định
Giá cà phê trong nước ngày 19/10 dao động từ 92.100 - 93.000 đồng/kg, trong khi hồ tiêu giữ mức 137.500 - 140.000 đồng/kg. Tại Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa gạo ít biến động; giá gạo trắng 5% tấm xuất khẩu của Việt Nam được chào bán ở mức 420 - 424 USD/tấn.
Giá cà phê trong nước duy trì quanh 93.000 đồng/kg
Giá cà phê trong nước ngày 19/10 tương đối ổn định so với tuần trước, dù một số địa phương ghi nhận điều chỉnh giảm nhẹ. Tại các vùng trồng trọng điểm Tây Nguyên, giá cà phê nhân xô dao động trong khoảng 92.100 - 93.000 đồng/kg.
Cụ thể, tại Đắk Nông (Lâm Đồng), giá cà phê giữ mức 93.000 đồng/kg, không thay đổi so với tuần trước. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cùng giảm 200 đồng/kg, xuống còn 92.800 đồng/kg. Lâm Đồng giảm 100 đồng/kg, còn 92.100 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, giá cà phê Robusta và Arabica diễn biến trái chiều trong tuần qua. Tại sàn London, hợp đồng Robusta giao tháng 11/2026 đóng cửa ở mức 3.414 USD/tấn, giảm 56 USD/tấn, tương đương 1,6% so với tuần trước. Hợp đồng giao tháng 1/2027 giảm 49 USD/tấn, tương đương 1,4%, xuống 3.405 USD/tấn.
Ngược lại, trên sàn New York, hợp đồng Arabica giao tháng 12/2026 tăng 18,7 US cent/pound, tương đương 6,5%, lên 305,6 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 3/2027 tăng 14,7 US cent/pound, tương đương 5,3%, đạt 294,5 US cent/pound.
Giá hồ tiêu đi ngang, cao nhất 140.000 đồng/kg
Giá hồ tiêu trong nước ngày 19/10 duy trì trong khoảng 137.500 - 140.000 đồng/kg, không thay đổi so với ngày trước đó sau phiên giảm 500 đồng/kg.
Tại Đắk Nông (Lâm Đồng), giá tiêu đạt 140.000 đồng/kg, cao nhất trong các địa phương được khảo sát. Đắk Lắk giữ mức 139.000 đồng/kg; khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu, nay thuộc TP. Hồ Chí Minh, giao dịch ở mức 138.000 đồng/kg. Gia Lai và Bình Phước (Đồng Nai) cùng có giá 137.500 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu tại các nước sản xuất lớn nhìn chung ổn định. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, tiêu đen Indonesia giữ mức 6.769 USD/tấn; tiêu đen ASTA Malaysia ở mức 9.100 USD/tấn và tiêu đen ASTA 570 của Brazil đạt 5.800 USD/tấn.
Với hồ tiêu Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l được chào bán ở mức 5.950 USD/tấn, loại 550 g/l đạt 5.995 USD/tấn. Trong phân khúc tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok Indonesia ở mức 9.268 USD/tấn, tiêu trắng ASTA Malaysia đạt 12.000 USD/tấn và tiêu trắng Việt Nam được chào bán ở mức 8.450 USD/tấn.
Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa gạo ngày 19/10 nhìn chung ổn định. Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, lúa tươi Đài Thơm 8 dao động 6.300 - 6.500 đồng/kg; OM 18 ở mức 6.400 - 6.600 đồng/kg. Lúa tươi OM 34 và IR 50404 cùng dao động 5.800 - 6.000 đồng/kg; DS1 ở mức 6.500 - 6.600 đồng/kg, còn OM 5451 dao động 6.000 - 6.200 đồng/kg.
Đối với gạo nguyên liệu xuất khẩu, IR 504 được giao dịch ở mức 8.800 - 8.950 đồng/kg; CL 555 ở mức 8.800 - 8.900 đồng/kg; OM 5451 dao động 9.300 - 9.400 đồng/kg. Gạo nguyên liệu OM 18 ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg, Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg, còn OM 380 và Sóc thơm cùng dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo tiếp tục ổn định. Gạo Nàng Nhen được niêm yết ở mức 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg. Gạo trắng thông dụng có giá 16.000 đồng/kg, gạo thường ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg, còn gạo thơm Jasmine dao động 17.000 - 18.000 đồng/kg. Giá nếp cũng đi ngang, với nếp 3 tháng khô ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 và IR 5625 tươi cùng dao động 7.300 - 7.500 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục ổn định. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo trắng 5% tấm được chào bán ở mức 420 - 424 USD/tấn; gạo Jasmine dao động 515 - 519 USD/tấn và gạo thơm 5% tấm ở mức 440 - 445 USD/tấn. Trong khi đó, gạo trắng 5% tấm của Thái Lan được giao dịch ở mức 455 - 459 USD/tấn, còn Pakistan ở mức 409 - 413 USD/tấn.
Theo thông cáo của Liên đoàn các nhà xuất khẩu gạo Ấn Độ (IREF), gạo trắng 5% tấm của nước này được chào bán ở mức 385 - 390 USD/tấn, thấp hơn khoảng 10% so với mức bình quân toàn cầu. IREF dự báo Ấn Độ vẫn giữ vị trí quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, song khả năng duy trì lợi thế phụ thuộc vào giá bán, chi phí và việc bảo đảm nguồn hàng.
Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công Thương được tài liệu cung cấp dẫn lại, khối lượng xuất khẩu gạo trong tháng 9/2026 đạt 6,4 triệu tấn, trị giá 3,11 tỷ USD, giảm lần lượt 6,1% về khối lượng và 10,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá gạo xuất khẩu bình quân 9 tháng năm 2026 đạt 484,8 USD/tấn, giảm 5,1% so với cùng kỳ.
Châu Á tiếp tục là thị trường xuất khẩu chủ lực của gạo Việt Nam. Philippines chiếm 40,9% thị phần, tiếp theo là Trung Quốc với 17,4% và Ghana với 12,7%. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh tại Iraq và Trung Quốc, trong khi Bờ Biển Ngà ghi nhận mức giảm hơn 55%.
1
3
07:07 19/10/2026
07:00 19/10/2026
1
3
Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook
Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.