Giá nông sản hôm nay 20/9: Tiêu đi ngang, cà phê phục hồi, lúa gạo ít biến động

Giá nông sản hôm nay 20/9: Tiêu đi ngang, cà phê phục hồi, lúa gạo ít biến động
Giá nông sản hôm nay 20/9 ghi nhận diễn biến trái chiều. Giá hồ tiêu trong nước tiếp tục đi ngang ở mức 137.000-141.000 đồng/kg, trong khi thị trường cà phê thế giới phục hồi sau ba phiên giảm liên tiếp. Tại Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa gạo ít biến động, giao dịch nhìn chung vẫn chậm.
Giá tiêu hôm nay trong nước đi ngang
Giá tiêu hôm nay 20/9 tại các vùng sản xuất trọng điểm trong nước tiếp tục duy trì ổn định trong khoảng 137.000-141.000 đồng/kg, không thay đổi so với phiên trước.
Tại Đắk Nông (Lâm Đồng), giá tiêu tiếp tục đứng ở mức cao nhất, đạt 141.000 đồng/kg. Đắk Lắk duy trì mức 139.000 đồng/kg.
Tại Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), giá tiêu được thu mua ở mức 137.500 đồng/kg. Trong khi đó, Gia Lai và Đồng Nai cùng ghi nhận mức 137.000 đồng/kg, thấp nhất trong các địa phương được khảo sát.
Sau khi Đắk Lắk giảm 1.000 đồng/kg trong ngày 18/9, thị trường hồ tiêu trong nước đã có hai phiên liên tiếp không ghi nhận thêm điều chỉnh. Chênh lệch giữa mức giá cao nhất và thấp nhất hiện là 4.000 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu tại một số nước sản xuất lớn xuất hiện điều chỉnh giảm.
Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen Indonesia giảm 53 USD/tấn, tương đương 0,76%, xuống còn 6.886 USD/tấn. Giá tiêu đen Malaysia cũng giảm 50 USD/tấn, tương đương 0,54%, xuống 9.250 USD/tấn. Trong khi đó, tiêu đen ASTA 570 của Brazil giữ nguyên ở mức 5.750 USD/tấn.
Đối với hồ tiêu Việt Nam, giá xuất khẩu chưa ghi nhận biến động mới. Tiêu đen loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục được chào bán trong khoảng 6.070-6.130 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia giảm 72 USD/tấn, tương đương 0,76%, xuống còn 9.428 USD/tấn. Tại Malaysia, giá tiêu trắng xuất khẩu giảm 50 USD/tấn, tương ứng 0,41%, xuống 12.150 USD/tấn.
Trong khi đó, tiêu trắng Việt Nam tiếp tục được giữ ở mức 8.450 USD/tấn, không thay đổi trong suốt tuần qua.
Với tiêu đen, Malaysia hiện có giá 9.250 USD/tấn, cao hơn Indonesia ở mức 6.886 USD/tấn, Việt Nam ở mức 6.070-6.130 USD/tấn và Brazil ở mức 5.750 USD/tấn. Ở phân khúc tiêu trắng, Malaysia tiếp tục đứng ở mức 12.150 USD/tấn, tiếp đến là Indonesia 9.428 USD/tấn và Việt Nam 8.450 USD/tấn.
Giá cà phê hôm nay: Robusta phục hồi nhẹ
Thị trường cà phê thế giới ngày 20/9 ghi nhận phiên phục hồi trên cả hai sàn London và New York, qua đó chấm dứt chuỗi ba phiên giảm liên tiếp. Động lực chính đến từ việc đồng USD suy yếu, thúc đẩy hoạt động mua bù các vị thế bán trên thị trường hợp đồng tương lai.
Trên sàn London, giá cà phê Robusta kỳ hạn tháng 11/2026 tăng 5 USD/tấn, tương đương 0,15%, lên 3.396 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 1/2027 tăng 13 USD/tấn, tương đương 0,39%, lên 3.373 USD/tấn.
Mức tăng này giúp Robusta phục hồi sau khi hợp đồng tháng 11/2026 giảm xuống 3.391 USD/tấn trong phiên trước. Tuy nhiên, giá vẫn chưa trở lại mốc 3.400 USD/tấn.
Trên sàn New York, diễn biến tích cực hơn khi giá Arabica tăng trên 1%. Hợp đồng Arabica giao tháng 12/2026 tăng 4 US cent/pound, tương đương 1,45%, lên 280,5 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 3/2027 tăng 3,4 US cent/pound, tương đương 1,27%, lên 271,95 US cent/pound.
Theo Reuters và Barchart, thị trường cà phê ban đầu vẫn chịu áp lực giảm nhưng sau đó đảo chiều khi chỉ số USD rời khỏi vùng cao nhất trong 7 tuần và quay đầu đi xuống. Đồng USD suy yếu thường tạo điều kiện thuận lợi cho các mặt hàng được định giá bằng đồng tiền này, đồng thời thúc đẩy một bộ phận nhà đầu tư đóng vị thế bán.
Dữ liệu từ Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Tương lai Mỹ cho thấy trong tuần kết thúc ngày 15/9, các nhà đầu cơ trên thị trường Arabica ICE Mỹ chuyển từ trạng thái mua ròng sang bán ròng 1.716 hợp đồng. Diễn biến này cho thấy áp lực bán đã gia tăng trước khi giá đảo chiều trong phiên mới nhất.
Dù giá cà phê phục hồi, các yếu tố cơ bản của thị trường chưa có nhiều thay đổi. Ngày 18/9, tồn kho Arabica được chứng nhận trên sàn ICE tăng thêm 10.528 bao, lên 258.415 bao - mức cao nhất trong khoảng 1,5 tháng.
So với mức thấp nhất trong 27 năm là 217.646 bao được ghi nhận hồi đầu tuần, lượng tồn kho hiện đã tăng hơn 40.000 bao trong thời gian ngắn.
Đối với Robusta, tồn kho trên sàn ICE cũng tăng lên 5.043 lô, mức cao nhất trong khoảng 9,5 tháng. Bên cạnh diễn biến tồn kho, điều kiện thời tiết tại hai vùng sản xuất lớn là Brazil và Việt Nam cũng đang được đánh giá là tương đối thuận lợi cho triển vọng nguồn cung.
Giá lúa gạo hôm nay ít biến động
Giá lúa gạo hôm nay 20/9 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ít biến động, trong khi giao dịch mua bán vẫn còn yếu.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 18 dao động 5.900-6.100 đồng/kg; lúa tươi OM 5451 ở mức 5.900-6.000 đồng/kg; lúa tươi IR 50404 dao động 5.800-6.000 đồng/kg; lúa tươi OM 34 ở mức 5.700-5.800 đồng/kg; lúa tươi Đài Thơm 8 dao động 6.100-6.200 đồng/kg.
Tại các địa phương, giao dịch mua bán có sự khác biệt. Tại Cần Thơ, hoạt động mua bán khởi sắc hơn nhưng giá lúa vẫn chững. Tại An Giang, giá lúa tươi các loại giữ vững. Trong khi đó, tại Đồng Tháp, Cà Mau, Tây Ninh và Vĩnh Long, giao dịch chậm, giá lúa ít biến động.
Với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động 8.700-8.800 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 ở mức 8.700-8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động 9.300-9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 ở mức 8.700-8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200-9.400 đồng/kg.
Gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 và Sóc thơm cùng được giao dịch ở mức 7.500-7.600 đồng/kg.
Với phụ phẩm, giá các mặt hàng dao động khoảng 7.300-8.600 đồng/kg. Tấm thơm 3-4 ở mức 8.500-8.600 đồng/kg, trong khi cám dao động 7.300-7.650 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo Đài thơm giảm 500 đồng/kg, xuống 15.000-16.000 đồng/kg. Các mặt hàng còn lại nhìn chung đứng giá. Gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000-22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa 21.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine 17.000-18.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg.
Gạo thường dao động 14.000-15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường 15.000-16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái 20.000 đồng/kg; gạo Nhật 22.000 đồng/kg; gạo OM 18 dao động 15.500-16.500 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam đi ngang so với hôm qua. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động 440-445 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán ở mức 526-530 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động 368-372 USD/tấn.
Trên thị trường quốc tế, giá gạo 5% tấm tại Thái Lan dao động 477-481 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm ở mức 373-377 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, giá gạo 5% tấm dao động 375-379 USD/tấn, còn gạo 100% tấm được chào bán ở mức 307-311 USD/tấn.
07:45 20/09/2026