Giá nông sản hôm nay 26/10: Cà phê dưới 90.000 đồng/kg, hồ tiêu phân hóa, lúa gạo ít biến động

Giá nông sản hôm nay 26/10: Cà phê dưới 90.000 đồng/kg, hồ tiêu phân hóa, lúa gạo ít biến động
Giá nông sản hôm nay 26/10 ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các mặt hàng. Giá cà phê tại Tây Nguyên tiếp tục dưới mốc 90.000 đồng/kg sau khi robusta giảm mạnh trên sàn London; giá hồ tiêu trong nước dao động 137.000–140.000 đồng/kg, còn thị trường lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ổn định, giao dịch trầm lắng.
Cà phê chịu sức ép từ nguồn cung vụ mới
Giá cà phê nhân xô hôm nay tại các tỉnh Tây Nguyên dao động trong khoảng 89.000–89.500 đồng/kg. Đắk Lắk, Gia Lai và khu vực Đắk Nông trước đây, nay thuộc tỉnh Lâm Đồng, cùng ghi nhận mức 89.500 đồng/kg; riêng Lâm Đồng ở mức 89.000 đồng/kg.
Trên sàn London, giá cà phê robusta giảm mạnh trong tuần qua. Hợp đồng giao tháng 11/2026 đóng cửa ở mức 3.228 USD/tấn, giảm 186 USD/tấn, tương đương 5,4%. Hợp đồng tháng 1/2027 giảm 163 USD/tấn, tương đương 4,8%, xuống còn 3.242 USD/tấn.
Trái lại, giá arabica trên sàn New York diễn biến trái chiều giữa các kỳ hạn. Hợp đồng tháng 12/2026 tăng 0,6%, lên 307,45 US cent/pound; hợp đồng tháng 3/2027 giảm 0,4%, xuống 293,40 US cent/pound.
Giao dịch cà phê trong nước vẫn khá trầm lắng khi thương nhân chờ nguồn hàng từ vụ thu hoạch mới. Với robusta loại 2, tỷ lệ hạt đen và vỡ 5%, giá chào bán phổ biến cao hơn hợp đồng kỳ hạn tháng 1 trên sàn London khoảng 150–200 USD/tấn. Trong khi đó, một thương nhân đưa ra mức chào mua cà phê giao tháng 12 khoảng 88.000 đồng/kg.
Triển vọng nguồn cung là một trong những yếu tố gây sức ép lên giá. Theo Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam, sản lượng cà phê niên vụ 2025–2026 ước đạt gần 1,9 triệu tấn, tăng khoảng 6–10% so với niên vụ trước. Bộ Nông nghiệp Mỹ từng dự báo sản lượng cà phê Việt Nam niên vụ 2026–2027 đạt 32,5 triệu bao, tăng 2,5%; trong đó robusta đạt 31,4 triệu bao, tăng khoảng 3%.
Trong ngắn hạn, giá cà phê tại Tây Nguyên có thể tiếp tục dao động quanh vùng hiện tại nếu thị trường thế giới chưa phục hồi rõ rệt. Tuy nhiên, tốc độ thu hoạch, sức mua của doanh nghiệp xuất khẩu và diễn biến thời tiết vẫn là những yếu tố cần theo dõi.
Giá hồ tiêu trong nước biến động trái chiều
Giá hồ tiêu hôm nay dao động từ 137.000–140.000 đồng/kg. Đắk Lắk tăng lên 140.000 đồng/kg, ngang mức tại khu vực Đắk Nông trước đây, nay thuộc tỉnh Lâm Đồng. Đây là hai địa bàn có giá thu mua cao nhất trong số các khu vực được khảo sát.
Tại khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu trước đây, nay thuộc TP.HCM, giá tiêu ở mức 137.500 đồng/kg. Trong khi đó, Gia Lai và khu vực Bình Phước trước đây, nay thuộc tỉnh Đồng Nai, cùng giảm 500 đồng/kg, xuống 137.000 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, theo Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia tăng 81 USD/tấn, tương đương 1,2%, lên 6.850 USD/tấn. Giá tiêu đen Malaysia duy trì ở mức 9.100 USD/tấn, còn tiêu đen Brazil loại ASTA 570 ổn định ở mức 5.800 USD/tấn.
Giá tiêu đen xuất khẩu Việt Nam chưa ghi nhận điều chỉnh mới, với loại 500 g/l ở mức 5.950 USD/tấn và loại 550 g/l đạt 5.995 USD/tấn. Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia tăng 86 USD/tấn, lên 9.354 USD/tấn; tiêu trắng Malaysia giữ mức 12.000 USD/tấn và tiêu trắng Việt Nam ở mức 8.450 USD/tấn.
Về nguồn cung, sản lượng hồ tiêu Campuchia được dự báo tiếp tục tăng. Theo IPC, diện tích trồng hồ tiêu nước này đạt 7.216 ha năm 2025 và dự kiến tăng lên khoảng 7.295 ha trong năm 2026. Sản lượng năm 2025 đạt 21.456 tấn, tăng 82% so với năm 2016; sản lượng năm 2026 được dự báo đạt 23.601 tấn, tăng khoảng 10%.
Năm 2025, Campuchia xuất khẩu 12.151 tấn hồ tiêu, trong đó Việt Nam chiếm khoảng 90% lượng xuất khẩu của nước này. Nguồn cung gia tăng có thể tạo thêm lựa chọn nguyên liệu cho doanh nghiệp Việt Nam, song tác động đến giá trong nước còn phụ thuộc vào nhu cầu chế biến, xuất khẩu và lượng hàng được đưa ra thị trường.
Lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa gạo hôm nay nhìn chung ổn định, hoạt động mua bán chưa sôi động.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động 8.900–9.000 đồng/kg; CL 555 ở mức 8.800–8.900 đồng/kg; OM 5451 đạt 9.300–9.400 đồng/kg. Gạo nguyên liệu OM 18 dao động 8.700–8.850 đồng/kg, Đài Thơm 8 ở mức 9.200–9.400 đồng/kg, trong khi OM 380 và Sóc thơm cùng dao động 7.500–7.600 đồng/kg.
Ở mặt hàng lúa tươi, Đài Thơm 8 được thu mua ở mức 6.300–6.500 đồng/kg; IR 50404 dao động 5.900–6.100 đồng/kg; OM 34 ở mức 5.900–6.000 đồng/kg. Lúa OM 5451 đạt 6.100–6.200 đồng/kg, OM 18 ở mức 6.400–6.600 đồng/kg và DS1 dao động 6.500–6.600 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo tiếp tục đi ngang. Gạo Nàng Nhen có giá cao nhất trong nhóm được khảo sát, ở mức 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài đạt 22.000 đồng/kg, gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000–22.000 đồng/kg. Gạo trắng thông dụng ở mức 16.000 đồng/kg, gạo thường khoảng 14.000–15.000 đồng/kg và gạo thơm Jasmine dao động 17.000–18.000 đồng/kg. Giá các mặt hàng nếp cũng không biến động đáng kể.
Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm của Việt Nam được giao dịch ở mức 470–475 USD/tấn, gạo trắng 5% tấm ở mức 423–427 USD/tấn và gạo Jasmine đạt 518–522 USD/tấn. Tại Thái Lan, gạo trắng 5% tấm được chào bán ở mức 474–478 USD/tấn; tại Ấn Độ, mặt hàng này dao động 384–388 USD/tấn. Gạo trắng 5% tấm của Pakistan được giao dịch ở mức 408–412 USD/tấn.
Về xuất khẩu, số liệu được cung cấp cho biết khối lượng gạo xuất khẩu trong tháng 9/2026 đạt 6,4 triệu tấn, trị giá 3,11 tỷ USD, giảm lần lượt 6,1% về lượng và 10,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá xuất khẩu bình quân 9 tháng năm 2026 đạt 484,8 USD/tấn, giảm 5,1%.
Philippines tiếp tục là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam, chiếm 40,9% thị phần; Trung Quốc và Ghana lần lượt chiếm 17,4% và 12,7%. Diễn biến này cho thấy thị trường lúa gạo trong nước đang tương đối ổn định, trong khi hoạt động xuất khẩu vẫn chịu tác động từ giá bán và nhu cầu tại các thị trường chủ lực.
1
4
8
07:15 26/10/2026
07:10 26/10/2026
1
4
8
Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook
Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.