Giá nông sản hôm nay 4/10: Tiêu đi ngang, cà phê tăng, lúa gạo biến động

Giá nông sản hôm nay 4/10: Tiêu đi ngang, cà phê tăng, lúa gạo biến động
Giá nông sản hôm nay 4/10 ghi nhận diễn biến trái chiều. Giá hồ tiêu trong nước tiếp tục đi ngang ở mức 136.500-140.500 đồng/kg, trong khi cà phê Tây Nguyên duy trì quanh 93.200-94.000 đồng/kg. Trên thị trường quốc tế, Robusta London tăng lên mức cao nhất 5 tuần. Trong khi đó, giá lúa tươi tại Đồng bằng sông Cửu Long biến động trái chiều, còn giá gạo nguyên liệu nhìn chung ổn định.
Giá tiêu hôm nay cao nhất 140.500 đồng/kg
Giá tiêu hôm nay 4/10 tại các vùng trồng trọng điểm không ghi nhận biến động mới, tiếp tục dao động trong khoảng 136.500-140.500 đồng/kg.
Đắk Nông thuộc tỉnh Lâm Đồng đang có mức giá cao nhất, đạt 140.500 đồng/kg. Đắk Lắk đứng tiếp theo ở mức 138.500 đồng/kg.
Tại Bà Rịa - Vũng Tàu, nay thuộc TP. Hồ Chí Minh, giá tiêu duy trì ở mức 137.000 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai cùng ghi nhận 136.500 đồng/kg, thấp nhất trong các địa phương được khảo sát.
Như vậy, sau khi đồng loạt tăng 500 đồng/kg vào đầu tháng 10, thị trường hồ tiêu trong nước đang bước vào giai đoạn ổn định. Giá chưa xuất hiện thêm biến động đáng kể sau nhịp tăng trước đó, trong khi khoảng cách giữa mức cao nhất và thấp nhất hiện là 4.000 đồng/kg.
So với cuối tháng 8, mặt bằng giá hiện tại vẫn cao hơn. Diễn biến này cũng củng cố nhận định của cơ quan chuyên môn rằng giá hồ tiêu trong nước có thể tiếp tục duy trì ở vùng cao trong ngắn hạn.
Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu tiếp tục diễn biến không đồng nhất giữa các quốc gia sản xuất lớn.
Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen ASTA 570 của Brazil giảm 50 USD/tấn, tương đương 0,85%, xuống 5.800 USD/tấn. Tại Malaysia, giá tiêu đen cũng giảm 50 USD/tấn, tương đương 0,54%, còn 9.200 USD/tấn.
Trong khi đó, giá tiêu đen Indonesia giữ nguyên ở mức 6.828 USD/tấn.
Đối với hồ tiêu Việt Nam, giá xuất khẩu tiếp tục ổn định. Tiêu đen loại 500 g/l được chào bán ở mức 5.970 USD/tấn, trong khi loại 550 g/l đạt 6.075 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, Malaysia giảm 50 USD/tấn, tương đương 0,41%, xuống 12.100 USD/tấn. Tiêu trắng Muntok của Indonesia duy trì ở mức 9.348 USD/tấn, còn tiêu trắng Việt Nam được chào bán khoảng 8.450 USD/tấn.
Diễn biến này cho thấy thị trường hồ tiêu quốc tế chưa hình thành xu hướng tăng hoặc giảm đồng nhất, khi giá chịu tác động khác nhau tùy từng quốc gia sản xuất, nguồn cung và nhu cầu thu mua.
Giá cà phê hôm nay: Robusta lên đỉnh 5 tuần
Giá cà phê hôm nay 4/10 tại thị trường Việt Nam hiện dao động quanh vùng 93.200-94.000 đồng/kg.
Đắk Nông đang có mức giá cao nhất, khoảng 94.000 đồng/kg. Đắk Lắk và Gia Lai cùng ở mức 93.800 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng được ghi nhận khoảng 93.200 đồng/kg.
Diễn biến giá trong nước đang được thị trường đặc biệt quan tâm khi Việt Nam bước vào niên vụ cà phê 2026-2027. Nguồn cung từ vụ mới dự kiến tăng dần trong tháng 10 và trở nên dồi dào hơn từ tháng 11 khi hoạt động thu hoạch bước vào giai đoạn cao điểm.
Theo số liệu được cung cấp, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 1,45 triệu tấn cà phê trong 9 tháng đầu năm 2026, tăng 16,2% so với cùng kỳ năm trước. Riêng tháng 9, lượng cà phê xuất khẩu đạt khoảng 124.000 tấn, tăng 53% so với cùng kỳ.
Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu 9 tháng chỉ đạt khoảng 6,6 tỷ USD, giảm 7%. Chênh lệch giữa tốc độ tăng về sản lượng và giá trị cho thấy giá xuất khẩu bình quân đã chịu sức ép so với cùng kỳ.
Đối với thị trường trong nước, nguồn cung vụ mới sẽ là yếu tố quan trọng chi phối giá trong những tháng cuối năm. Dù niên vụ mới đã bắt đầu từ đầu tháng 10, lượng cà phê mới chưa được đưa ra thị trường với quy mô lớn ngay lập tức. Hoạt động thu hoạch dự kiến tăng dần trong tháng 10, trước khi nguồn cung gia tăng rõ rệt hơn từ tháng 11.
Cà phê Việt Nam bước vào niên vụ mới giữa áp lực về giáViệt Nam bước vào niên vụ cà phê 2026-2027 trong bối cảnh nguồn cung vụ mới chưa tăng mạnh ngay trong khi giá xuất khẩu bình quân 9 tháng đầu năm giảm gần 20 Lượng hàng xuất khẩu vẫn tăng nhưng kim ngạch lại giảm cho thấy thị trường đang chịu tác động đồng thời từ giá nguồn cung quốc tế và sự dịch chuyển giữa các nước sản xuất |
Trên sàn London, giá Robusta hợp đồng giao tháng 11/2026 tăng 21 USD/tấn, tương đương 0,61%, lên 3.469 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 1/2027 tăng mạnh 45 USD/tấn, tương đương 1,32%, lên 3.448 USD/tấn.
Mức tăng này đưa giá Robusta lên vùng cao nhất trong khoảng 5 tuần, cho thấy thị trường đang có dấu hiệu hồi phục sau giai đoạn chịu áp lực bán.
Trên sàn New York, giá Arabica cũng duy trì sắc xanh, với các hợp đồng kỳ hạn tăng khoảng 0,3-0,5%. Diễn biến này nối dài nhịp phục hồi của Arabica sau khi giá giảm mạnh từ vùng đỉnh hồi cuối tháng 8.
Một trong những yếu tố hỗ trợ thị trường là đồng USD suy yếu. Khi đồng bạc xanh giảm giá, hàng hóa định giá bằng USD thường trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nắm giữ những đồng tiền khác.
Đáng chú ý, thị trường Robusta đang ghi nhận lượng vị thế bán khống tương đối lớn. Theo báo cáo Cam kết của các nhà giao dịch, trong tuần kết thúc ngày 29/9, các quỹ tăng vị thế bán ròng Robusta thêm 2.658 hợp đồng, nâng tổng vị thế bán ròng lên 3.959 hợp đồng, mức cao nhất trong 13 tháng.
Lượng vị thế bán lớn có thể tạo thêm lực mua khi giá xuất hiện tín hiệu phục hồi hoặc đồng USD suy yếu, do các nhà đầu tư bán khống có xu hướng mua lại hợp đồng để đóng vị thế.
Giá lúa gạo hôm nay biến động trái chiều
Giá lúa gạo hôm nay 4/10 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận một số điều chỉnh ở mặt hàng lúa tươi, trong khi giá gạo nguyên liệu, phụ phẩm và gạo bán lẻ nhìn chung ổn định.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động 8.750-8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 ở mức 8.700-8.800 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động 9.300-9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 ở mức 8.700-8.850 đồng/kg.
Gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200-9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500-7.600 đồng/kg.
Với phụ phẩm, giá các mặt hàng dao động khoảng 7.500-9.050 đồng/kg. Tấm thơm ở mức 8.900-9.050 đồng/kg, trong khi giá cám dao động 7.500-7.700 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo đứng giá so với hôm qua. Gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000-22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa 21.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine 17.000-18.000 đồng/kg.
Gạo Đài thơm dao động 15.500-16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg; gạo thường 14.000-15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường 15.000-16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái 20.000 đồng/kg; gạo Nhật 22.000 đồng/kg; gạo OM 18 dao động 15.500-16.500 đồng/kg.
Phân khúc nếp đi ngang so với hôm qua. Giá nếp 3 tháng khô dao động 9.600-9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300-7.500 đồng/kg; nếp IR 5625 tươi cũng ở mức 7.300-7.500 đồng/kg.
Với mặt hàng lúa, giá lúa tươi OM 18 tăng 100 đồng/kg, dao động 6.100-6.300 đồng/kg. Lúa tươi Đài Thơm 8 cũng tăng 100 đồng/kg, lên 6.100-6.300 đồng/kg.
Trong khi đó, lúa tươi OM 5451 giảm 50 đồng/kg, dao động 6.000-6.100 đồng/kg. Lúa tươi OM 34 giảm 100 đồng/kg, còn 5.700-5.800 đồng/kg. Giá lúa tươi IR 50404 dao động 5.800-6.000 đồng/kg.
Tại các địa phương, nguồn lúa Hè Thu đã vãn, trong khi lúa Thu Đông giao dịch ít và giá lúa nhìn chung vững. Tại An Giang, nguồn lúa Hè Thu đã vãn đồng, lượng còn lại ít, giá biến động nhẹ theo hướng trái chiều. Tại Cần Thơ, Đồng Tháp, Tây Ninh, Vĩnh Long và Cà Mau, giao dịch mua bán mới lai rai, giá lúa biến động nhẹ.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam đứng giá so với cuối tuần. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 100% tấm dao động 371-375 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán ở mức 515-519 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động 440-445 USD/tấn.
Trên thị trường thế giới, giá gạo biến động. Giá gạo 5% tấm tại Thái Lan giảm 4 USD/tấn, xuống 455-459 USD/tấn; gạo 100% tấm giảm 1 USD/tấn, còn 381-385 USD/tấn. Tại Ấn Độ, giá gạo 5% tấm dao động 382-386 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm tăng 3 USD/tấn, lên 326-330 USD/tấn.
2
Doanh nghiệp - Doanh nhân
Thép, ô tô, xe máy cùng tăng tốc, điện tử vào chu kỳ tăng trưởng mới 6
06:58 04/10/2026
06:55 04/10/2026
06:52 04/10/2026
2
Doanh nghiệp - Doanh nhân
Thép, ô tô, xe máy cùng tăng tốc, điện tử vào chu kỳ tăng trưởng mới 6