Giá nông sản hôm nay 4/9: Cà phê tiếp tục giảm, lúa tươi đồng loạt hạ giá

Giá nông sản hôm nay 4/9: Cà phê tiếp tục giảm, lúa tươi đồng loạt hạ giá
Giá cà phê hôm nay 4/9 tiếp tục giảm trên cả thị trường trong nước và thế giới, trong khi giá hồ tiêu đi ngang. Tại Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa tươi đồng loạt giảm 100 đồng/kg, còn giá gạo xuất khẩu trong nước duy trì ổn định.
Giá cà phê tiếp tục giảm
Giá cà phê tại các vùng trồng trọng điểm tiếp tục giảm trong ngày 4/9. Tại Tây Nguyên, giá thu mua giảm thêm 500 - 600 đồng/kg, đưa toàn bộ các địa phương được khảo sát xuống dưới mốc 95.000 đồng/kg.
Cụ thể, Đắk Nông (Lâm Đồng mới) giảm 500 đồng/kg, xuống 94.500 đồng/kg, cao nhất khu vực. Đắk Lắk và Gia Lai cùng giảm 600 đồng/kg, xuống 94.200 đồng/kg. Lâm Đồng cũng giảm 600 đồng/kg, còn 93.700 đồng/kg, thấp nhất trong các địa phương được khảo sát.
Như vậy, giá cà phê tại Tây Nguyên hiện dao động trong khoảng 93.700 - 94.500 đồng/kg.
Trên sàn London, robusta giao tháng 9/2026 giảm 1,6%, tương đương 55 USD/tấn, xuống 3.376 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 11/2026 giảm 1,59%, tương đương 55 USD/tấn, còn 3.406 USD/tấn.
Tại New York, áp lực bán mạnh hơn trên thị trường arabica. Hợp đồng giao tháng 9/2026 giảm 4,05%, tương đương 13,85 US cent/pound, xuống 328,4 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 12/2026 giảm 3,67%, tương đương 11,35 US cent/pound, còn 298,1 US cent/pound, xuống dưới ngưỡng 3 USD/pound.
Theo Reuters, đây là phiên giảm thứ tư liên tiếp của thị trường cà phê. Đà giảm kéo dài khoảng một tuần đã đưa arabica xuống mức thấp nhất trong 5 tuần, trong khi robusta chạm vùng thấp nhất trong khoảng 2,75 tháng.
Một trong những yếu tố gây sức ép lên giá cà phê thế giới là lượng hàng từ Brazil bắt đầu được đưa ra thị trường nhiều hơn. Các nhà giao dịch cho biết xuất khẩu cà phê của quốc gia sản xuất lớn nhất thế giới đang gia tăng khi vụ thu hoạch bước vào giai đoạn cuối, qua đó góp phần giảm bớt tình trạng khan hiếm nguồn cung vật chất từng hỗ trợ giá trong thời gian trước.
Giá hồ tiêu đi ngang
Trái ngược với diễn biến giảm của cà phê, giá hồ tiêu trong nước tiếp tục ổn định sau kỳ nghỉ lễ Quốc khánh, với mức thu mua phổ biến 135.000 - 137.000 đồng/kg.
Đáng chú ý, Lâm Đồng tiếp tục dẫn đầu thị trường với mức 137.000 đồng/kg. Đắk Lắk đứng tiếp theo với 136.500 đồng/kg.
Tại Đồng Nai, Gia Lai và TP Hồ Chí Minh, giá hồ tiêu cùng duy trì ở mức 135.000 đồng/kg, thấp nhất trong các địa phương được khảo sát.
Khoảng cách giữa mức giá cao nhất và thấp nhất hiện là 2.000 đồng/kg. Thị trường hồ tiêu trong nước đã trải qua nhiều phiên liên tiếp không có biến động sau nhịp giảm vào cuối tháng 8.
Trên thị trường thế giới, giá hồ tiêu tại các quốc gia sản xuất lớn cũng không ghi nhận thay đổi.
Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), hồ tiêu đen Indonesia được chào bán ở mức 6.893 USD/tấn; tiêu đen ASTA 570 của Brazil ở mức 5.800 USD/tấn; tiêu đen Malaysia 9.300 USD/tấn.
Giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục dao động trong khoảng 5.990 - 6.050 USD/tấn đối với hai chủng loại 500 g/l và 550 g/l.
Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia giữ mức 9.438 USD/tấn. Giá tiêu trắng Việt Nam và Malaysia lần lượt ở mức 8.400 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
Giá lúa tươi đồng loạt giảm
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa tươi ngày 4/9 biến động nhẹ trong bối cảnh giao dịch mua bán chưa sôi động. Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá các loại lúa tươi chủ lực đồng loạt giảm 100 đồng/kg.
Cụ thể, lúa tươi OM 34 giảm xuống 5.800 - 5.900 đồng/kg; OM 18 còn 6.500 - 6.700 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 6.500 - 6.700 đồng/kg; OM 5451 còn 6.400 - 6.500 đồng/kg; IR 50404 dao động 6.200 - 6.400 đồng/kg.
Tại An Giang, nhu cầu có cải thiện và giá lúa biến động nhẹ. Trong khi đó, giao dịch tại Đồng Tháp, Tây Ninh, Cần Thơ, Cà Mau và Vĩnh Long khá hơn, giá lúa tương đối ổn định.
Đối với gạo nguyên liệu xuất khẩu, giá IR 504 và CL 555 cùng ở mức 8.900 - 8.950 đồng/kg. OM 5451 dao động 9.300 - 9.400 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 từ 9.200 - 9.400 đồng/kg; OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Giá các mặt hàng phụ phẩm dao động 7.450 - 8.750 đồng/kg. Trong đó, tấm thơm ở mức 8.600 - 8.700 đồng/kg, cám dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo tiếp tục ổn định. Gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg.
Gạo thơm Jasmine dao động 16.500 - 18.000 đồng/kg; Đài thơm 15.500 - 16.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg; gạo thường 13.500 - 15.500 đồng/kg; Sóc thường 14.000 - 15.000 đồng/kg; Sóc Thái 20.000 đồng/kg; gạo Nhật 22.000 đồng/kg và OM 18 ở mức 15.500 - 16.500 đồng/kg.
Giá nếp tiếp tục ổn định. Nếp 3 tháng khô ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg, trong khi nếp IR 4625 tươi dao động 7.300 - 7.500 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam duy trì ổn định. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm được chào bán ở mức 470 - 480 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm 373 - 377 USD/tấn; gạo Jasmine 534 - 538 USD/tấn.
Tại Thái Lan, gạo 5% tấm dao động 453 - 457 USD/tấn, gạo 100% tấm ở mức 366 - 370 USD/tấn. Gạo trắng 5% tấm của Pakistan được chào giá 406 - 410 USD/tấn.
Trong khi đó, Ấn Độ tiếp tục có mức giá thấp hơn trong nhóm các nước xuất khẩu lớn. Gạo trắng 5% tấm của nước này được chào bán 364 - 368 USD/tấn; gạo đồ 5% tấm 370 - 374 USD/tấn và gạo 100% tấm 304 - 308 USD/tấn.
06:35 04/09/2026
06:32 04/09/2026