Giải pháp nào để xuất khẩu sầu riêng đạt 4 tỷ USD trong năm 2026?

Giải pháp nào để xuất khẩu sầu riêng đạt 4 tỷ USD trong năm 2026?
Giải pháp nào để xuất khẩu sầu riêng đạt 4 tỷ USD trong năm 2026?
VOV.VN - Sầu riêng là một sản phẩm chủ chốt của ngành trồng trọt và đóng góp khoảng 40% sản lượng xuất khẩu của ngành trồng trọt. Riêng trong 8 tháng đầu năm nay, xuất khẩu sầu riêng ước đạt khoảng 1,95 tỷ USD. Thị trường Trung Quốc đóng góp khoảng 1,85 tỷ USD, chiếm khoảng 95% thị phần.
Chiều nay (3/9), thông tin tại Họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 8, về vấn đề tháo gỡ khó khăn cho ngành sầu riêng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết, hiện nay, sầu riêng là một trong những sản phẩm tương đối có giá trị cao ở Việt Nam, với diện tích khoảng 200.000 ha và sản lượng khoảng 2,08 triệu tấn. Năm 2021, sản phẩm sầu riêng xuất khẩu khoảng 177 triệu USD. Đến năm 2025, sản lượng xuất khẩu đạt 3,85 tỷ USD, có sự tăng đột biến trong 5 năm vừa qua.
Sầu riêng là một sản phẩm chủ chốt của ngành trồng trọt và đóng góp khoảng 40% sản lượng xuất khẩu của ngành trồng trọt. Riêng trong 8 tháng đầu năm nay, ước đạt khoảng 1,95 tỷ USD. Thị trường Trung Quốc đóng góp khoảng 1,85 tỷ USD, chiếm khoảng 95% thị phần.
Để tháo gỡ khó khăn cho sầu riêng, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp thông tin, thời gian qua, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã cử các đoàn công tác của Bộ làm việc trực tiếp với các địa phương, đặc biệt là những vùng trồng sầu riêng cao như Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.
Ngày 1/7, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã thực hiện truy xuất nguồn gốc trên hệ thống chuyển đổi số của Bộ. Khách hàng nước ngoài, khách hàng trong nước có thể truy cập dữ liệu từ khâu trồng trọt, chăm sóc, phân bón hay nuôi trồng của các loại nông sản, trong đó có sầu riêng. Qua đó tạo niềm tin cho khách hàng, đặc biệt là khách quốc tế. Các tham tán thương mại của Mỹ, Trung Quốc đều đánh giá cao việc lần đầu tiên Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện truy xuất nguồn gốc.
Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong việc cấp mã vùng trồng. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã triển khai các văn bản chỉ đạo, qua đó tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã trình Chính phủ Nghị quyết 36 về tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc cấp mã số vùng trồng cho tất cả các loại cây trồng. Đây là một trong những tháo gỡ rất thiết thực mà doanh nghiệp đánh giá cao.
Bộ cũng đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền mạnh mẽ về địa phương trong công tác cấp mã vùng trồng của tất cả các loại cây trồng, trong đó có sầu riêng. Tất cả các loại sầu riêng được phân cấp cho cấp phường, cấp xã cấp mã vùng trồng, cấp mã đóng gói. Đặc biệt, trước đây khi trồng xen canh rất khó trong triển khai việc cấp mã vùng trồng. Hiện nay, cây trồng xen canh cũng được giao cho cấp phường, xã cấp mã vùng trồng, tạo thuận tiện cho xuất khẩu sầu riêng.
"Đặc biệt, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đã sang Trung Quốc ngày 14/8, qua những buổi làm việc, Tổng cục Hải quan của Trung Quốc đã cấp cho Việt Nam 567 mã vùng trồng sầu riêng, nâng tổng số mã vùng trồng lên khoảng hơn 1.800 mã. Hiện nay, chúng ta có khoảng 1.599 mã vùng trồng sầu riêng và 281 cơ sở đóng gói. Đây là những kết quả đã đạt được và đang triển khai để đưa xuất khẩu sầu riêng trong cuối năm nay ít nhất đạt bằng năm ngoái là 3,85 tỷ USD hoặc có thể cao hơn, đạt khoảng 4 tỷ USD trong năm 2026", ông Đặng Ngọc Điệp thông tin.
Nói thêm về những khó khăn, vướng mắc của ngành sầu riêng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ rõ, ngành sầu riêng tăng trưởng nhanh nhưng diện tích còn chưa gắn với tổ chức chuỗi giá trị và tại một số địa phương, việc mở rộng mang tính tự phát, chưa chặt chẽ với điều kiện đất đai, nguồn nước và chưa có hệ thống kết nối giữa nhà sản xuất, logistics, xuất khẩu.
Trong khi đó, yêu cầu về kỹ thuật thị trường ngày càng cao hơn. Hiện nay, các thị trường đang có những yêu cầu rất cao về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, cơ sở dữ liệu phải đầy đủ. Đây là những việc thời gian tới phải tiếp tục làm tốt hơn.
Đặc biệt, vấn đề cạnh tranh quốc tế cũng là thách thức cần vượt qua trong thời gian tới. Các nước như Malaysia, Thái Lan và các nước trong khu vực đã có những sản phẩm, chính sách để thúc đẩy xuất khẩu sầu riêng sang Trung Quốc.
Để tháo gỡ những khó khăn này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định, thời gian tới cần đẩy mạnh xúc tiến thương mại và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Trong đó, tiếp tục đàm phán mở rộng thị trường, tăng thị phần tại các thị trường tiềm năng như Ấn Độ, Úc, New Zealand. Gia tăng xuất khẩu sầu riêng đông lạnh, sản phẩm chế biến, các sản phẩm phù hợp; tăng cường xúc tiến thương mại, tổ chức quảng bá thương hiệu, kết nối cung cầu, tăng cường thông tin, phân tích, dự báo thị trường, kịp thời định hướng sản xuất, tiêu thụ, thu hoạch.
"Trong tháng 7, phía Ấn Độ đã đồng ý cho Việt Nam xuất khẩu sầu riêng sang Ấn Độ. Đây là một thị trường tỷ dân và có nhu cầu rất lớn thời gian tới, đặc biệt có những khách hàng siêu giàu. Chúng tôi đang triển khai mở rộng thị trường xuất khẩu sang Ấn Độ", ông Điệp thông tin.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng cho rằng, thời gian tới cần đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tổ chức lại sản xuất, phát triển vùng nguyên liệu bền vững, rà soát quy hoạch vùng sản xuất phù hợp với điều kiện đất đai, nguồn nước, khí hậu. Phát triển hạ tầng vùng nguyên liệu tập trung gắn với sơ chế, chế biến, bảo quản, tiêu thụ và xuất khẩu. Đồng thời, kết nối nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trở lại vùng nguyên liệu, từng bước xây dựng thương hiệu sầu riêng Việt Nam.
Từ thực tế, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp nhận định, thời gian tới cần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư thêm vào các nhà máy để có thể sơ chế, chế biến và bảo quản, làm sao giữ được sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng quốc tế.
Đặc biệt, ngành sầu riêng cần chuẩn hóa chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc; nâng cao trình độ nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ, chuyển đổi số. Phát triển hạ tầng bảo quản, chế biến, logistics; khuyến khích đầu tư kho lạnh, kho sơ chế, bảo quản, chế biến tại vùng sản xuất tập trung. Đẩy mạnh chế biến, đa dạng hóa sản phẩm và phương thức vận chuyển, ứng dụng công nghệ để giảm chi phí, nâng cao chất lượng; đồng thời nâng cấp hạ tầng thủy lợi, giao thông phục vụ vùng nguyên liệu.
Ngoài ra, giải pháp về mở rộng, củng cố, nâng cao năng lực hệ thống phòng thí nghiệm, xã hội hóa, mở cửa các phòng thí nghiệm đủ điều kiện, ưu tiên thiết bị, nâng cao năng lực kiểm nghiệm chất lượng đối với cadimi, vàng ô và các tiêu chí theo yêu cầu thị trường nhập khẩu cũng là giải pháp cần triển khai ngay thời gian tới.
Google Search. Xem hướng dẫn.