Hạn mặn 'đe dọa' ĐBSCL

Dự báo nguồn nước về ĐBSCL thuộc nhóm năm ít nước, xâm nhập mặn có thể nghiêm trọng tương đương mùa khô 2015 - 2016, đe dọa sản xuất lúa và cây ăn quả.
Mùa khô 2026 - 2027 được dự báo sẽ đặt sản xuất nông nghiệp vùng Đông Nam bộ và ĐBSCL trước nhiều thách thức khi lượng mưa có khả năng thiếu hụt, nguồn nước về đồng bằng suy giảm, xâm nhập mặn có thể tiến sâu vào nội đồng. Trước nguy cơ này, ngành nông nghiệp khuyến cáo các địa phương chủ động né hạn, mặn ngay từ đầu vụ, không xuống giống bằng mọi giá khi chưa bảo đảm nguồn nước.
Xâm nhập mặn có thể gay gắt từ đầu năm 2027
Chiều 9.10, tại Đồng Tháp, Cục Trồng trọt và Bảo vệ môi trường phối hợp Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi cùng Sở Nông nghiệp - Môi trường tỉnh Đồng Tháp tổ chức hội nghị sơ kết công tác sản xuất trồng trọt, phòng chống hạn, mặn năm 2026 và triển khai kế hoạch năm 2027 tại vùng Đông Nam bộ và ĐBSCL.
Theo nhận định của ngành chức năng tại hội nghị, hiện tượng El Nino có xu hướng duy trì từ cuối năm 2026 sang đầu năm 2027, nhiệt độ phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm. Lượng mưa trong mùa khô có khả năng thiếu hụt, làm gia tăng nguy cơ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn, đặc biệt trong giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 6.2027.
Đáng lo ngại, nguồn nước về ĐBSCL được dự báo thuộc nhóm năm ít nước, xấp xỉ năm 2015 - 2016; một số thời kỳ có thể tương tự năm 2019 - 2020. Xâm nhập mặn mùa khô 2026 - 2027 có khả năng cao hơn trung bình nhiều năm và mùa khô trước đó, với mức độ có thể tương đương mùa khô 2015 - 2016.
Thời điểm xâm nhập mặn bắt đầu ảnh hưởng có thể từ cuối tháng 12.2026, sau đó tăng cao trong giai đoạn tháng 1 - 4.2027. Đây là khoảng thời gian nhạy cảm đối với sản xuất nông nghiệp, khi nhiều diện tích lúa bước vào các giai đoạn sinh trưởng quan trọng, trong khi cây ăn quả cần nguồn nước ngọt ổn định để duy trì năng suất và chất lượng.
Tại hệ thống thủy lợi Gò Công (Đồng Tháp), khoảng 20.000 ha lúa đông xuân 2026 - 2027 được xác định có nguy cơ chịu tác động của hạn mặn. Trong khi đó, khoảng 45.000 ha cây ăn quả tại các vùng ven biển có nguy cơ thiếu nước tưới khi xâm nhập mặn tiến sâu vào nội đồng.
Diện tích cây ăn quả có nguy cơ tập trung tại Vĩnh Long với khoảng 25.000 ha, Đồng Tháp 14.000 ha, Tây Ninh 3.000 ha và TP.Cần Thơ 3.000 ha. Đặc biệt, sầu riêng và những loại cây ăn quả mẫn cảm với độ mặn tại các vùng hạ nguồn có thể bị ảnh hưởng nếu nguồn nước tưới không được bảo đảm.
Bên cạnh nguy cơ hạn mặn mùa khô, lũ tại khu vực Đồng Tháp Mười vẫn cần được theo dõi chặt chẽ. Mực nước lũ còn cao, kết hợp mưa lớn trong những ngày tới, có thể làm gia tăng nguy cơ tràn, vỡ bờ bao thấp tại một số khu vực ở các xã Tháp Mười, Trường Xuân của Đồng Tháp và Tân Hưng, Vĩnh Hưng của Tây Ninh. Các địa phương được yêu cầu theo dõi sát mực nước, kịp thời gia cố những vị trí có nguy cơ mất an toàn, hạn chế thiệt hại đối với sản xuất và đời sống người dân.
Không xuống giống bằng mọi giá
Nguy cơ hạn mặn không chỉ đặt ra yêu cầu cấp thiết về bảo đảm nguồn nước mà còn buộc ngành nông nghiệp phải tính toán lại kế hoạch sản xuất, cơ cấu cây trồng và lịch thời vụ theo điều kiện thực tế từng vùng.
Theo số liệu tổng hợp tại hội nghị, năm 2026, tổng diện tích gieo trồng lúa các vụ tại ĐBSCL và Đông Nam bộ ước đạt hơn 4,038 triệu ha, giảm 94.400 ha so với năm 2025. Dù năng suất bình quân tăng 1,3 tạ/ha, lên 64,3 tạ/ha, sản lượng lúa toàn vùng vẫn ước giảm 67.900 tấn, còn gần 25,97 triệu tấn.
Sang năm 2027, diện tích gieo trồng lúa dự kiến tiếp tục giảm còn hơn 3,987 triệu ha; sản lượng ước đạt khoảng 25,71 triệu tấn, giảm 257.000 tấn so với năm 2026. Riêng ĐBSCL dự kiến giảm 37.100 ha diện tích gieo trồng và 199.700 tấn sản lượng.
Trong khi đó, diện tích cây ăn quả chính toàn vùng năm 2026 đạt khoảng 679.000 ha, tăng 9.600 ha so với năm trước. Sản lượng ước đạt hơn 10,78 triệu tấn, tăng khoảng 300.000 tấn. Đây là nhóm cây trồng có giá trị kinh tế cao nhưng cũng đòi hỏi nguồn nước tưới phù hợp, khiến bài toán ứng phó hạn mặn càng trở nên cấp thiết.
Phát biểu tại hội nghị, ông Dương Quốc Huy, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ môi trường, đề nghị các địa phương chủ động né hạn, mặn ngay từ đầu vụ; bố trí đúng giống, đúng vùng, đúng thời vụ, sử dụng nước tiết kiệm và hiệu quả. Trọng tâm là bảo vệ diện tích sản xuất hiện có, nhất là các vùng cây lâu năm có giá trị kinh tế cao, đồng thời tổ chức sản xuất gắn với nhu cầu thị trường.
"Nơi nào chưa cân đối được nước đến cuối vụ thì không được xuống giống bằng mọi giá, không mở rộng diện tích và không xử lý ra hoa trái vụ khi chưa bảo đảm nguồn nước cho toàn bộ chu kỳ sản xuất", ông Huy nhấn mạnh.
Theo ông Huy, các địa phương cần tận dụng thời điểm có nước ngọt để lấy và trữ nước; rà soát, nạo vét kênh mương, ao trữ, củng cố bờ bao và cống kiểm soát mặn. Việc kiểm tra độ mặn trước khi lấy nước phải được thực hiện nghiêm túc, đặc biệt tại các vùng trồng cây ăn quả nhạy cảm với mặn, nhằm tránh đưa nguồn nước không bảo đảm vào vườn.
Một yêu cầu đáng chú ý khác là mỗi tỉnh, thành cần xây dựng ít nhất 2 kịch bản ứng phó, gồm kịch bản nguồn nước bình thường và kịch bản hạn hán, xâm nhập mặn diễn biến bất lợi.
Trong mỗi kịch bản, địa phương phải xác định rõ diện tích, lịch thời vụ, cơ cấu giống và cây trồng, nhu cầu nước, khu vực cần giảm diện tích hoặc chuyển đổi, cũng như giải pháp bảo vệ cây lâu năm. Viện Cây ăn quả miền Nam được đề nghị tiếp tục hoàn thiện hướng dẫn kỹ thuật dễ áp dụng theo từng nhóm cây và vùng rủi ro, từ thời điểm dừng lấy nước, cách trữ và tưới nước đến biện pháp chăm sóc, phục hồi vườn sau hạn, mặn.
Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook
Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.