🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Khi trái sầu riêng phải 'học' cách đi đường dài

Cập nhật: Một Thế Giới
Khi trái sầu riêng phải 'học' cách đi đường dài

Khi trái sầu riêng phải 'học' cách đi đường dài

Khi trái sầu riêng phải 'học' cách đi đường dài

Từ chỗ quen canh tác theo kinh nghiệm, người trồng sầu riêng ở Đồng bằng sông Cửu Long đang phải thay đổi cách làm để đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu. Câu chuyện tại HTX Trinh Lợi cho thấy, muốn trái sầu riêng đi đường dài, không chỉ cần chất lượng quả mà còn phải bắt đầu từ tư duy sản xuất xanh, quản lý chặt chẽ và truy xuất nguồn gốc.

Từ thói quen nhà vườn đến chuẩn xuất khẩu

Nông nghiệp xanh, nông nghiệp thông minh đang trở thành hướng đi quan trọng của ngành trái cây Việt Nam khi các thị trường xuất khẩu ngày càng nâng yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, từ nhận thức đến hành động là một chặng đường không đơn giản, nhất là với nông dân vốn quen sản xuất theo kinh nghiệm, tập quán và biến động giá từng mùa vụ.

Thực tế canh tác sầu riêng tại Hợp tác xã (HTX) Trinh Lợi, xã Đại Hải (TP. Cần Thơ) cho thấy chuyển đổi sang sản xuất xanh đòi hỏi thay đổi từ tư duy, kĩ thuật đến quản lí. Theo ông Huỳnh Thanh Lễ, Giám đốc HTX Trinh Lợi, thị trường trái cây Việt Nam đang có nghịch lí có lúc dư thừa sản lượng nhưng vẫn thiếu sản phẩm ngon, sạch, an toàn và đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu.

Trung Quốc hiện chiếm khoảng 65 - 70% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả Việt Nam, theo ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư kí Hiệp hội Rau quả Việt Nam. Các yêu cầu về kiểm dịch thực vật, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, phát triển xanh và giảm phát thải ngày càng cao.

Vì vậy, nông dân không thể chờ đến khi thu hoạch mới tính chuyện bán hàng. Ngay từ đầu vụ, người sản xuất phải xác định trồng cây gì, theo tiêu chuẩn nào, phục vụ thị trường nào và tổ chức quy trình canh tác ra sao. Nếu diện tích tăng mà không gắn với quy hoạch vùng trồng, nhu cầu thị trường và năng lực kiểm soát chất lượng, nguy cơ cung vượt cầu sẽ gia tăng.

Có mã số vùng trồng vẫn chưa đủ

Tại HTX Trinh Lợi, diện tích chuyên canh sầu riêng khoảng 50 ha ở ấp 5A, xã Đại Hải, đã đạt tiêu chuẩn OCOP 3 sao. HTX được Tổng cục Hải quan Trung Quốc phê duyệt mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu chính ngạch.

Tuy nhiên, có mã số vùng trồng mới chỉ là bước khởi đầu. Người trồng phải kiểm soát toàn bộ quá trình, từ làm đất, bón phân, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đến thu hoạch.

Vật tư đầu vào cũng phải được quản lí chặt chẽ. Sử dụng phân hữu cơ, phân bón sinh học, kiểm soát liều lượng phân vô cơ và không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thuộc danh mục cấm là những yêu cầu quan trọng. Người trồng phải thay đổi thói quen, không thể tùy tiện sử dụng vật tư theo kinh nghiệm hoặc chạy theo năng suất trước mắt.

Theo kinh nghiệm tại HTX Trinh Lợi: “Khi bón phân phải nhìn cây, nhìn đất, nhìn trời. Phải bón đúng, bón đủ, bón cân đối và bón hợp lí”. Bón phân không đúng vừa tăng chi phí, vừa lãng phí tài nguyên, ảnh hưởng môi trường và chất lượng nông sản.

Nhưng nông nghiệp thông minh không chỉ là áp dụng một vài kĩ thuật. Điều quan trọng là kết hợp kiến thức canh tác, quản lí dữ liệu, kiểm soát đầu vào và tổ chức tiêu thụ thành một quy trình thống nhất.

Chi phí sản xuất cũng là vấn đề phải tính toán. Qua hạch toán tại HTX Trinh Lợi, chi phí đầu vào trong thời kì kinh doanh, từ năm thứ bảy trở đi, khoảng 8.300 đồng/kg sầu riêng. Mức này đã tính vật tư, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, khấu hao máy móc, nông cụ và các khoản chiết khấu phát sinh.

Bởi vậy, chuyển đổi xanh không thể chỉ vận động bằng khẩu hiệu. Nông dân cần được hướng dẫn kĩ thuật, hỗ trợ xây dựng hồ sơ, tiếp cận công nghệ và nâng cao năng lực quản trị.

Muốn đi đường dài, phải làm chủ cuộc chơi

Theo ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư kí Hiệp hội Rau quả Việt Nam, ĐBSCL cần xây dựng bản đồ sản xuất xanh, sử dụng dữ liệu đất đai, nguồn nước và khí hậu để quy hoạch vùng trồng theo tín hiệu thị trường. Công nghệ số cần được đưa vào quản lí mã số vùng trồng thông qua hệ thống thông tin địa lí (GIS), nhật kí điện tử và giám sát theo thời gian thực.

Các quy định của Trung Quốc về đăng kí cơ sở sản xuất, chế biến và mã số vùng trồng đặt ra yêu cầu tuân thủ nghiêm ngặt. Vi phạm liên quan đến sinh vật gây hại, dịch hại kiểm dịch hoặc tiêu chuẩn an toàn có thể dẫn đến nguy cơ tạm dừng nhập khẩu, đình chỉ mã số.

Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, chất bảo quản và an toàn thực phẩm phải được kiểm soát ngay tại vùng trồng. Một lô hàng không đạt chuẩn có thể ảnh hưởng uy tín của doanh nghiệp, hợp tác xã và cả vùng sản xuất.

Các giải pháp như tưới tiết kiệm, quản lí dịch hại tổng hợp, bảo quản sau thu hoạch và phát triển chuỗi lạnh cần được triển khai phù hợp điều kiện từng địa phương.

Liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp xuất khẩu và nhà nhập khẩu cũng phải thực chất hơn. Hợp đồng bao tiêu dài hạn, yêu cầu chất lượng rõ ràng và cơ chế chia sẻ lợi ích hợp lí sẽ giúp người trồng yên tâm đầu tư sản xuất xanh.

Người trồng phải đầu tư công sức, thay đổi thói quen, tuân thủ kỉ luật sản xuất và chấp nhận quản lí minh bạch hơn. Nhưng khi tiêu chuẩn xuất khẩu ngày càng khắt khe, đứng ngoài quá trình chuyển đổi đồng nghĩa với nguy cơ mất cơ hội thị trường.

Từ mô hình HTX Trinh Lợi đến định hướng tổ chức lại sản xuất toàn vùng, thông điệp rất rõ: muốn trái cây ĐBSCL phát triển bền vững, phải chuyển từ tư duy chạy theo sản lượng sang sản xuất theo tiêu chuẩn, nhu cầu thị trường và đơn đặt hàng. Nói dễ, làm không dễ, nhưng đây là việc bắt buộc phải làm để nâng chất lượng nông sản, bảo vệ môi trường và giữ vững thị trường xuất khẩu.

Muốn làm được điều đó, các vùng trồng cần liên kết, lấy chất lượng làm nền tảng, dữ liệu làm công cụ và thị trường làm định hướng sản xuất lâu dài.

Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook

Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.

Theo dõi fanpage