Không chỉ xuất khẩu nhiều hơn, nông sản phải giữ lại nhiều giá trị hơn

Không chỉ xuất khẩu nhiều hơn, nông sản phải giữ lại nhiều giá trị hơn
9 tháng năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ, xuất siêu khoảng 16,9 tỷ USD. Lâm sản đạt 14,41 tỷ USD, thủy sản 9,17 tỷ USD, rau quả 7,35 tỷ USD. Riêng sầu riêng đến hết tháng 8 đạt khoảng 2,27 tỷ USD, tăng 47,8%.
Những con số này cho thấy sức cạnh tranh của nhiều ngành hàng đang được cải thiện. Tuy nhiên, đằng sau tốc độ tăng kim ngạch là sự phân hóa đáng chú ý giữa sản lượng, giá bán và giá trị thực tế tạo ra.
Cà phê là một ví dụ. 9 tháng, lượng xuất khẩu tăng 15,4% nhưng kim ngạch lại giảm 7,3%, trong khi giá xuất khẩu bình quân giảm 19,7%. Gạo cũng giảm cả lượng và giá trị. Điều này cho thấy khi phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu và sản phẩm sơ chế, kim ngạch có thể biến động mạnh theo giá hàng hóa thế giới.
Vấn đề vì thế không chỉ là xuất khẩu được bao nhiêu tấn hay bao nhiêu tỷ USD, mà là mỗi tấn nguyên liệu đang tạo ra bao nhiêu giá trị và phần giá trị nào được giữ lại trong nước.
Một tấn nguyên liệu, nhiều tầng giá trị
Theo Quyết định 858/QĐ-TTg ngày 20/7/2022, phát triển cơ giới hóa nông nghiệp và chế biến nông, lâm, thủy sản đến năm 2030 được xác định là một hướng quan trọng nhằm nâng giá trị gia tăng. Chiến lược đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm chế biến nông sản thuộc nhóm 10 nước hàng đầu thế giới, giá trị gia tăng công nghiệp chế biến tăng 10%/năm và tỷ trọng giá trị xuất khẩu nông sản chủ lực là sản phẩm chế biến đạt 60%.
Điểm đáng chú ý là chế biến không chỉ có nghĩa xây thêm nhà máy. Giá trị được tạo ra còn nằm ở bảo quản, phân loại, tiêu chuẩn hóa, thiết kế sản phẩm, thương hiệu, đóng gói, logistics và khả năng tiếp cận thị trường.
Với cà phê, thay vì chỉ xuất khẩu hạt, dư địa nằm ở rang xay, hòa tan, cà phê đặc sản và các sản phẩm mang thương hiệu Việt. Với rau quả, các dòng đông lạnh, sấy, nước ép hay puree có thể kéo dài thời gian bảo quản và mở rộng thị trường. Thủy sản cũng có thể gia tăng tỷ trọng các sản phẩm chế biến, tiện lợi và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc.
Cách tiếp cận này phù hợp với định hướng tại Quyết định 150/QĐ-TTg ngày 28/1/2022, trong đó nhấn mạnh chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp, phát triển sản phẩm có giá trị cao theo chuỗi.
Giá trị cao bắt đầu từ vùng nguyên liệu
Tuy nhiên, muốn chế biến sâu không thể chỉ bắt đầu từ nhà máy. Chất lượng sản phẩm cuối cùng phụ thuộc rất lớn vào vùng nguyên liệu.
Nguyên liệu không đồng đều, thiếu truy xuất hoặc sản xuất không theo tiêu chuẩn sẽ khiến doanh nghiệp khó duy trì chất lượng ổn định, khó xây dựng thương hiệu và khó đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường nhập khẩu.
Do đó, tổ chức lại sản xuất trở thành khâu quan trọng. Hợp tác xã có thể tập hợp nông hộ, thống nhất quy trình; doanh nghiệp đảm nhận vai trò về thị trường, công nghệ, tiêu chuẩn và chế biến. Dữ liệu vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng giúp các mắt xích trong chuỗi không còn hoạt động tách rời.
Với thủy sản, yêu cầu về an toàn chuỗi cung ứng và chống khai thác IUU tiếp tục là điều kiện quan trọng để duy trì thị trường. Với rau quả, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và tiêu chuẩn chất lượng quyết định khả năng mở rộng xuất khẩu. Trong khi đó, yêu cầu về phát triển xanh, giảm phát thải và trách nhiệm xã hội đang ngày càng trở thành một phần của giá trị sản phẩm.
Như vậy, dư địa tăng trưởng của nông, lâm, thủy sản không chỉ nằm ở việc mở rộng sản lượng hay tìm thêm thị trường. Quan trọng hơn là nâng giá trị trên mỗi đơn vị nguyên liệu, kéo dài chuỗi giá trị ở trong nước và tăng tỷ lệ sản phẩm mang hàm lượng công nghệ, chế biến và thương hiệu.
Từ mục tiêu 74,212 tỷ USD xuất khẩu trong năm 2026, áp lực trong những tháng cuối năm không chỉ là tìm thêm thị trường để tăng kim ngạch. Xa hơn, đó là bài toán làm thế nào để cùng một nguồn nguyên liệu có thể tạo ra nhiều giá trị hơn, giúp tăng trưởng của ngành bền vững hơn trước biến động giá và thị trường quốc tế.
**Nam Sơn **(t/h)