Kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt 6,54 tỷ USD

Kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt 6,54 tỷ USD
| Vườn cà phê hữu cơ được trồng tại tỉnh Sơn La. |
Cụ thể, khối lượng xuất khẩu cà phê tháng 9 năm 2026 ước đạt 114,2 nghìn tấn, với giá trị đạt 511,8 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu cà phê 9 tháng đầu năm 2026 đạt 1,4 triệu tấn và 6,54 tỷ USD, tăng 15,4% về khối lượng nhưng giảm 7,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá cà phê xuất khẩu bình quân 9 tháng năm 2026 ước đạt 4.537,3 USD/tấn, giảm 19,7% so với cùng kỳ năm 2025. Cũng do giá cà phê giảm kéo theo kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ 2025.
Mặc dù, kim ngạch xuất khẩu cà phê 9 tháng đầu năm 2026 giảm do giá xuất khẩu giảm, nhưng đây vẫn được coi là điểm sáng về xuất khẩu của ngành nông nghiệp nước ta, nhất là trong bối cảnh chịu tác động từ các cuộc xung đột trên thế giới làm tăng chi phí logistics, trong đó đặc biệt cước vận tải tăng đã ảnh hưởng, tác động tới nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu nói chung, cà phê nói riêng.
Về thị trường xuất khẩu cà phê cũng gặp khó khăn do tiêu thụ giảm. Đặc biệt: Đức, Italia và Nhật Bản vốn là 3 thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần lần lượt là 13,1%, 8,2% và 7,2%. So với cùng kỳ năm 2025, giá trị xuất khẩu cà phê 8 tháng năm 2026 sang thị trường Đức giảm 12,5%, thị trường Nhật Bản giảm 3,6%, thị trường Italia tăng 0,5%. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, giá trị xuất khẩu cà phê tăng mạnh nhất ở thị trường Trung Quốc với mức tăng 63,7% và giảm mạnh nhất ở thị trường Malaysia với mức giảm 25,8%.
Ngoài những khó khăn do thị trường chính tiêu thụ giảm, giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam cũng chịu tác động từ xuất khẩu cà phê của Brazil, quốc gia xuất khẩu cà phê lớn trên thế giới. Sức ép từ Brazil không đồng nghĩa giá cà phê sẽ diễn biến theo một chiều. Từ đầu tháng 10-2026, Việt Nam chính thức bước vào niên vụ cà phê mới. Tuy nhiên, việc bắt đầu niên vụ không đồng nghĩa nguồn cung cà phê mới lập tức được đưa ra thị trường với khối lượng lớn. Thị trường còn phụ thuộc vào tiến độ thu hoạch tại Việt Nam, lượng hàng được nông dân, doanh nghiệp bán ra, chất lượng cà phê và nhu cầu của các doanh nghiệp, nhà chế biến, rang xay.
Hiện nay, thị trường tiếp tục phải cân đối giữa lượng cà phê vụ cũ còn lại và nguồn hàng mới. Vì vậy, những diễn biến về giá trong thời gian tới sẽ phụ thuộc không chỉ vào sản lượng dự kiến, mà còn vào tốc độ thu hoạch và lượng hàng thực tế được nông dân, doanh nghiệp đưa ra thị trường cũng như khả năng tiêu thụ từ các thị trường, đặc biệt thị trường chính của cà phê Việt Nam và cà phê của các quốc gia xuất khẩu trên thế giới.
Đối với cà phê Việt Nam, còn một yếu tố nữa rất quan trọng là yêu cầu truy xuất nguồn gốc tại thị trường châu Âu. Đặc biệt, Quy định chống phá rừng, suy thoái của Liên minh châu Âu (EUDR- Quy định về EUDR đã được ban hành nhằm đảm bảo rằng các sản phẩm được đưa ra thị trường EU hoặc xuất khẩu từ thị trường này không góp phần vào nạn phá rừng hoặc suy thoái rừng) sẽ được áp dụng theo lộ trình đối với các nhóm doanh nghiệp khác nhau, trong đó cà phê thuộc phạm vi hàng hóa điều chỉnh. Do vậy, doanh nghiệp xuất khẩu tiếp tục phải chuẩn bị dữ liệu về vùng trồng, nguồn gốc và chuỗi cung ứng để đáp ứng yêu cầu khi quy định được áp dụng.
Để hoàn thành mục tiêu xuất khẩu cà phê năm 2026, các doanh nghiệp Việt Nam cần tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường, đặc biệt là thị trường Trung Quốc được đánh giá còn nhiều dư địa, tiềm năng phát triển. Cùng với đó, tập trung chế biến sâu, xây dựng thương hiệu được xác định là những động lực cốt lõi giúp cà phê Việt Nam gia tăng giá trị và hiệu quả kinh tế từ mặt hàng xuất khẩu chủ lực này.