🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Nền tảng thịnh vượng bền vững từ nông nghiệp

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
Nền tảng thịnh vượng bền vững từ nông nghiệp

Khát vọng Việt Nam hùng cường không thể tách rời một nền nông nghiệp năng suất cao, một nông thôn đáng sống và nông dân có tri thức, phẩm giá, năng lực sáng tạo.

Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) nhấn mạnh rằng việc chuyển đổi hệ thống nông lương thực toàn cầu phải tiến hành đồng bộ trên ba trụ cột: đảm bảo an ninh lương thực và dinh dưỡng, giảm phát thải khí nhà kính, và nâng cao sức chống chịu trước các cú sốc khí hậu. Với Việt Nam, câu hỏi chiến lược là: làm thế nào chuyển lợi thế sản xuất thành năng lực tự chủ và thịnh vượng dài hạn.

Trong kỷ nguyên phát triển mới, mục tiêu tăng trưởng hai con số đòi hỏi một mô hình nông nghiệp vượt khỏi tư duy tăng sản lượng: tăng giá trị trên mỗi hecta, nâng thu nhập nông dân và bảo toàn nền tảng sinh thái. Nghị quyết 19-NQ/TW đã đặt nền tảng "nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh"; Nghị quyết 57-NQ/TW mở đường cho ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.

Vì vậy, đề xuất quản trị ngành nông nghiệp tích hợp dựa trên dữ liệu và quy hoạch vùng, phát triển chuỗi giá trị xanh, đặt người dân ở trung tâm và gắn sinh kế với quốc phòng, an ninh với đích đến là nền nông nghiệp tạo tăng trưởng hôm nay, đồng thời củng cố năng lực trường tồn quốc gia qua nhiều thế hệ.

Từ trụ đỡ kinh tế đến động lực tăng trưởng mới

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, câu hỏi chiến lược không chỉ làm thế nào để nông nghiệp sản xuất nhiều hơn, xuất khẩu lớn hơn, mà là làm thế nào để mỗi hecta đất, mỗi nguồn nước, mỗi cánh rừng, mỗi vùng biển và mỗi người nông dân tạo ra giá trị cao hơn, đồng thời củng cố sức chống chịu, tính tự chủ và năng lực trường tồn của quốc gia.

Trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị, biến động thương mại, biến đổi khí hậu và đứt gãy chuỗi cung ứng ngày càng khó dự báo, nông nghiệp không đơn thuần là một ngành kinh tế mà còn là nền tảng của an ninh lương thực, ổn định xã hội, bảo vệ lãnh thổ và sức sống bền vững của dân tộc.

Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã xác lập tầm nhìn phát triển “nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh”, lấy nông dân làm chủ thể, trung tâm và mục tiêu của phát triển.

Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, tăng trưởng GDP ngành nông nghiệp bình quân khoảng 3%/năm, năng suất lao động nông nghiệp tăng 5,5-6%/năm; đến năm 2045, nông nghiệp trở thành ngành sản xuất hàng hóa quy mô lớn, giá trị gia tăng cao, gắn với công nghiệp chế biến hiện đại và thị trường toàn cầu.

Thực tiễn cho thấy nền tảng ấy có sức bật lớn, năm 2025, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam ước đạt 70,09 tỷ USD, tăng 12% so với năm 2024 và vượt mục tiêu 65 tỷ USD; trong đó, nông sản đạt 37,25 tỷ USD, lâm sản 18,5 tỷ USD, thủy sản 11,32 tỷ USD.

Cùng năm, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng 3,78%, đóng góp 5,30% vào mức tăng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Những kết quả này khẳng định năng lực sản xuất và vị thế thương mại của nông nghiệp Việt Nam, nhưng cũng đặt ra yêu cầu chuyển từ tăng sản lượng sang nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và khả năng giữ lại giá trị trong nước.

Thách thức là tăng trưởng nông nghiệp vẫn chịu sức ép từ quy mô sản xuất nhỏ, liên kết chuỗi chưa chặt chẽ, chi phí đầu vào, chất lượng chế biến, năng lực dự báo thị trường và rủi ro khí hậu.

Nếu chỉ tăng kim ngạch xuất khẩu mà không tăng thu nhập thực chất của người sản xuất, năng lực công nghệ trong nước và khả năng chống chịu của hệ sinh thái, thành quả tăng trưởng sẽ khó bền vững. Vì vậy, trong mô hình phát triển mới, nông nghiệp cần được nhìn nhận đồng thời là động lực kinh tế, nền tảng an sinh, hạ tầng sinh thái và một cấu phần của năng lực tự chủ quốc gia.

Một hệ quản trị - một không gian - một nền dữ liệu

Đột phá cần thiết không chỉ nằm ở giống mới, máy móc hiện đại hay vốn đầu tư, mà ở cách tổ chức và quản trị toàn bộ hệ thống nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Nghị quyết số 57-NQ/TW về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, kết hợp với định hướng phát triển kinh tế tư nhân của Nghị quyết số 68-NQ/TW, cần được cụ thể hóa thành một mô hình quản trị nông nghiệp hiện đại: Nhà nước kiến tạo thể chế và hạ tầng dữ liệu; doanh nghiệp tổ chức thị trường, công nghệ và chế biến; hợp tác xã kết nối các hộ sản xuất; nông dân vừa là người sản xuất, vừa là chủ thể dữ liệu, đồng sáng tạo và thụ hưởng giá trị.

Trước hết, cần tổ chức một nền dữ liệu nông nghiệp và nông thôn có khả năng liên thông, kết nối thông tin về đất đai, vùng sản xuất, nguồn nước, thời tiết, giống, vật tư đầu vào, dịch bệnh, mùa vụ, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, logistics, giá cả, thị trường và phát thải. Dữ liệu phải được chuẩn hóa, cập nhật và phân quyền sử dụng; tránh tình trạng nhiều cơ sở dữ liệu rời rạc, doanh nghiệp và nông dân phải khai báo lặp lại, trong khi cơ quan quản lý thiếu thông tin đủ nhanh để dự báo và ra quyết định theo thời gian thực.

Từ nền tảng đó, quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạch cấp tỉnh phải vận hành như một chỉnh thể, gắn sản xuất với chế biến, kho lạnh, giao thông, cảng, logistics, năng lượng, thị trường và bảo vệ hệ sinh thái. Không thể quy hoạch vùng nguyên liệu tách rời nguồn nước; phát triển cây trồng, vật nuôi mà không tính sức tải môi trường; hay xây dựng hạ tầng nông thôn mà không kết nối với nơi làm việc và thị trường tiêu thụ.

Trong hệ thống chính quyền địa phương hai cấp hiện nay, cấp tỉnh cần giữ vai trò điều phối không gian sản xuất, hạ tầng liên tỉnh và chuỗi giá trị; cấp xã cần tổ chức thực thi sát địa bàn, nắm chắc sinh kế, đất đai, rủi ro thiên tai và nhu cầu của người dân.

Để tránh chuyển đổi số thành một lớp thủ tục mới, mỗi vùng sản xuất chủ lực nên có hồ sơ số dùng chung và bộ chỉ tiêu kết quả rõ ràng: năng suất, thu nhập của hộ, chi phí đầu vào, tỷ lệ sản phẩm qua chế biến, mức độ truy xuất nguồn gốc, hiệu quả sử dụng nước, phát thải và khả năng phục hồi sau thiên tai...

Bên cạnh đó, trí tuệ nhân tạo, viễn thám và dự báo khí tượng thủy văn cần được ứng dụng để cảnh báo dịch bệnh, hạn hán, xâm nhập mặn, biến động giá và nguy cơ mất thị trường. Công nghệ chỉ có ý nghĩa khi giúp người nông dân ra quyết định tốt hơn, giảm chi phí và tăng thu nhập.

Nông dân là trung tâm, quốc gia vững bền qua biến động

Tăng trưởng nhanh và bền vững không thể dựa trên việc chuyển rủi ro thị trường, khí hậu và chi phí đầu vào về phía nông dân. Nông dân cần được tham gia thực chất vào hợp tác xã, liên kết hợp đồng, bảo hiểm nông nghiệp, đào tạo nghề, tín dụng phù hợp và các cơ chế chia sẻ giá trị.

Hợp tác xã phải trở thành tổ chức kinh tế cung cấp dịch vụ đầu vào, kỹ thuật, dữ liệu, sơ chế và đàm phán với doanh nghiệp, thay vì chỉ tồn tại để hoàn thiện hồ sơ.

Doanh nghiệp cần có động lực đầu tư dài hạn vào vùng nguyên liệu, công nghệ chế biến, thương hiệu và thị trường; Nhà nước tập trung tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, bảo đảm cạnh tranh công bằng và hỗ trợ những nhóm dễ bị tổn thương.

Chuyển đổi xanh cần được coi là lợi thế cạnh tranh, không phải chi phí tuân thủ đơn thuần. Theo nghiên cứu của FAO về hệ thống lương thực phát thải thấp tại Việt Nam, năm 2022, các hệ thống lương thực phát thải khoảng 117,8 triệu tấn CO₂ tương đương; trồng lúa chiếm 23,4% tổng phát thải của hệ thống, còn chăn nuôi liên quan đến lên men đường ruột và quản lý chất thải chiếm 16,7%.

Những con số này cho thấy giảm phát thải phải bắt đầu từ chính các quy trình sản xuất, sử dụng phân bón, quản lý nước, phụ phẩm và chất thải. Đề án phát triển một triệu hecta lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long là hướng đi cần được gắn chặt hơn với hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định phát thải; tiêu chuẩn chất lượng; chế biến; thương hiệu và cơ chế phân chia lợi ích cho nông dân.

Đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 1,5 triệu nông dân trong chuỗi sản xuất lúa và đóng góp hơn một nửa sản lượng lúa gạo cả nước, nhưng chịu sức ép ngày càng lớn từ nước biển dâng, xâm nhập mặn, hạn hán và biến động nguồn nước. Vì vậy, quy hoạch sản xuất cần dựa trên điều kiện sinh thái và an ninh nguồn nước, thay vì duy trì mọi mô hình canh tác bằng mọi giá.

Phát triển nông thôn cũng cần vượt khỏi tư duy chỉ đo bằng số công trình hoặc số tiêu chí đạt chuẩn. Một nông thôn hiện đại cần có việc làm tốt, trường học và dịch vụ y tế có chất lượng, nước sạch, môi trường an toàn, kết nối số, không gian văn hóa và cơ hội để người trẻ lập nghiệp tại quê hương.

Chương trình OCOP, làng nghề, du lịch cộng đồng, chế biến nông sản và kinh tế rừng cần được liên kết thành hệ sinh thái sinh kế đa dạng, để người dân không phải phụ thuộc vào một loại cây trồng, một thị trường hay một mùa vụ.

Đặc biệt, phát triển nông nghiệp phải gắn chặt với bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Ở khu vực biên giới, biển, đảo, vùng sâu, vùng xa và địa bàn chiến lược, sinh kế bền vững, hạ tầng thiết yếu, dân cư ổn định và cộng đồng gắn bó với địa bàn là những nền tảng quan trọng của thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân.

Phát triển thủy sản có trách nhiệm, bảo vệ rừng đầu nguồn và rừng ven biển, quản lý tài nguyên nước xuyên biên giới, bảo đảm an ninh lương thực và truy xuất nguồn gốc không chỉ tạo giá trị kinh tế mà còn củng cố năng lực bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia theo pháp luật Việt Nam và luật pháp quốc tế.

Để chuyển tầm nhìn thành hành động, cần ưu tiên ba việc: một là, xây dựng nền dữ liệu liên thông và cơ chế điều phối quy hoạch theo vùng sinh thái-kinh tế; hai là, tập trung nguồn lực vào các chuỗi giá trị có lợi thế, có khả năng chế biến sâu, giảm phát thải và mở rộng thị trường; ba là, lấy thu nhập thực chất, chất lượng sống và khả năng chống chịu của người dân làm thước đo kết quả.

Các chương trình, chính sách hiện hành cần được rà soát theo các tiêu chí này, xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm, nguồn lực, mốc thời gian hoàn thành và cơ chế giám sát; tránh đầu tư dàn trải, trùng lặp hoặc chạy theo thành tích hình thức.

Khát vọng Việt Nam hùng cường không thể tách rời một nền nông nghiệp có năng suất cao, một nông thôn đáng sống và những người nông dân có tri thức, phẩm giá, năng lực sáng tạo và quyền thụ hưởng công bằng. Năng lực trường tồn quốc gia được hình thành khi đất nước có thể nuôi sống mình, làm chủ những năng lực sản xuất thiết yếu, bảo vệ hệ sinh thái, giữ vững chủ quyền và thích ứng trước những cú sốc chưa thể dự báo.

Khi đó, nông nghiệp không chỉ là trụ đỡ lúc khó khăn, mà sẽ trở thành một động lực kiến tạo tương lai: tăng trưởng nhanh mà không đánh đổi nền tảng sinh thái, hội nhập sâu mà không lệ thuộc, hiện đại hóa mà không đánh mất bản sắc, và phát triển để mọi người dân đều có cơ hội sống tốt hơn qua nhiều thế hệ.

Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook

Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.

Theo dõi fanpage