🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Thủy sản

Người khai mở mặt nước hồ Núi Cốc

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
Người khai mở mặt nước hồ Núi Cốc

Đến hồ Núi Cốc thưởng thức vị cá thơm, thịt chắc, du khách hỏi mua ở đâu, người dân thường chỉ tới HTX Nông lâm thủy sản Đại Từ, nơi giữ vị cá lòng hồ.

Khởi nghiệp ở tuổi "toan về già"

Trên mặt nước hồ Núi Cốc (tỉnh Thái Nguyên), những dãy lồng cá nối tiếp nhau tạo thành vùng nuôi thủy sản rộng lớn. Ông Nguyễn Danh Tuyên - Phó Giám đốc HTX Nông lâm thủy sản Đại Từ (HTX Thủy sản Đại Từ) đã dành hơn một thập kỷ gây dựng mô hình nuôi cá lồng, từng bước biến mặt nước thành sinh kế ổn định cho nhiều gia đình và các thành viên HTX.

Vốn gắn bó với ngành y, ông Nguyễn Danh Tuyên (xã Đại Phúc, tỉnh Thái Nguyên) từng công tác tại Trung tâm Y tế huyện Đại Từ. Công việc của một cán bộ y tế tưởng như chẳng liên quan đến những chiếc lồng cá giữa lòng hồ, nhưng chính từ những chuyến đi thực tế lúc còn công tác đã giúp ông tìm thấy một hướng đi lúc về già.

Năm 2014, theo đoàn công tác của tỉnh Thái Nguyên, ông Tuyên có dịp tham quan, học hỏi các mô hình nuôi cá lồng trên sông Đà, hồ Thác Bà. Nghĩ về hồ Núi Cốc, ông vô cùng trăn trở khi nơi đây thời đó chỉ phục vụ du khách ngắm cảnh. Trở về, ông phối hợp với các đơn vị của tỉnh xin chủ trương đầu tư phát triển nuôi trồng thủy sản trên lòng hồ.

Sang năm sau, 2 chiếc lồng thử nghiệm được dựng lên, mặc cho những lo lắng về hiệu quả. "Thời đó tôi nuôi cá lăng. Cứ làm, xong rồi bán dần, cá cứ lớn mà không có vấn đề bệnh tật. Từ mô hình nhỏ, tôi tăng lên 10 lồng, rồi 15 lồng, cứ nâng dần thành cụm như bây giờ”, ông Tuyên kể.

Hơn 15 năm trôi qua, từ hai chiếc lồng thử nghiệm, giờ đã trở thành cơ ngơi nuôi cá giữa lòng hồ. Khu vực nuôi của gia đình ông Tuyên hiện rộng khoảng 2.000m2 với 29 lồng vuông và 2 lồng tròn đường kính 13m. Tổng vốn đầu tư cho hệ thống lồng, thiết bị và các hạng mục phục vụ nuôi cá khoảng 2 tỷ đồng.

Hành trình ấy diễn ra trong bối cảnh kinh tế tập thể tại huyện Đại Từ (cũ) được khuyến khích phát triển. Thực hiện Đề án “Phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2021-2025”, ông Tuyên cùng các thành viên thành lập HTX Thủy sản Đại Từ.

HTX được hỗ trợ hơn 800 triệu đồng từ chương trình phát triển thủy sản gắn với xây dựng nông thôn mới để đóng lồng, mua cá giống và thức ăn.

Nguồn hỗ trợ đã trở thành điểm tựa để những chiếc lồng cá tồn tại và lớn dần theo năm tháng. Vì vậy, người con trai của ông cũng định hướng vào Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên để giúp bố. Những kiến thức học trên giảng đường được đưa xuống từng chiếc lồng, từ lựa chọn giống, kỹ thuật chăm sóc đến xây dựng quy trình nuôi phù hợp với điều kiện lòng hồ.

Phát triển giống cá đặc sản

Thế mạnh chính của HTX Thủy sản Đại Từ là các dòng cá da trơn gồm cá lăng, cá ngạnh sông, cá lăng chấm và cá nheo Mỹ. Bên cạnh đó là các loại cá có vảy như rô phi, chép, trắm, cá bỗng Hà Giang và cá hô có nguồn gốc từ sông Mê Kông.

Hiện tổng đàn cá tại khu vực của ông Tuyên khoảng 8.000 - 9.000 con, giá bán bình quân ổn định từ 200.000 - 500.000 đồng/kg tùy loại. Riêng lượng cá thương phẩm đang trong quá trình xuất bán khoảng 7 tấn.

“Tiền lãi nằm ở chính những con cá của mình. Điều vui nhất là mình trả được hết nợ”, ông Tuyên nói. Sau 5 năm, gia đình ông đã hoàn thành các khoản vay. Mỗi năm mô hình cho lợi nhuận khoảng 300 triệu đồng. Thay vì rút toàn bộ lợi nhuận, ông tiếp tục đưa một phần vốn quay lại những chiếc lồng, mở rộng đàn cá và duy trì quy mô sản xuất.

Cá hô là "thủy quái" từ lâu gắn liền với sông Mê Kông, có giá trị kinh tế cực kỳ cao. Ở khu vực miền Bắc hình như chưa có mô hình nuôi cá lòng hồ nào nuôi thành công. Vậy mà ông Tuyên làm được. Dù còn nhiều hạn chế nhưng rất có thể đây sẽ là khởi đầu của thương hiệu cá đặc sản hồ Núi Cốc.

Câu chuyện thú vị nhất trong hành trình nuôi cá của ông Tuyên là việc đưa cá hô - loài cá đặc trưng của sông Mê Kông và cá bỗng Hà Giang (nay là Tuyên Quang) về nuôi thử nghiệm tại hồ Núi Cốc. Đây là một phần của dự án do Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thái Nguyên triển khai nhằm bảo tồn, di chuyển giống cá để đánh giá khả năng thích nghi.

Ban đầu, gia đình ông tiếp nhận khoảng 2.000 con cá giống. Tuy nhiên, quá trình thuần hóa không dễ dàng. Sau thời gian nuôi, chỉ khoảng 40% cá hô sống, còn cá bỗng mang từ Hà Giang có cùng dòng chảy và điều kiện tự nhiên khá tương đồng nên thích nghi tốt.

“Qua thử nghiệm, HTX rút ra được nhiều kinh nghiệm. Đối với những loài cá ở các vùng khác tới, cần quy hoạch vùng và có phương án trộn nước dần để các loài có thể thích nghi được với dòng nước mới”, ông Tuyên cho biết.

Sau khoảng 4 năm, những con cá hô còn lại đã đạt trọng lượng trung bình khoảng 5kg, có con hàng chục kg. Giá cá hô hiện khoảng 300.000 đồng/kg; cá bỗng khoảng 250.000 đồng/kg, trọng lượng bình quân khoảng 3kg/con.

Giữ môi trường nước

Để giữ chất lượng cá, ông Tuyên nhấn mạnh giữ nước sạch là vô cùng quan trọng. Không sử dụng những giải pháp cầu kỳ, ông tận dụng những gì có sẵn trên mặt hồ để hỗ trợ môi trường nuôi. Những đám bèo Tây trôi theo dòng nước được ông giữ lại bằng hệ thống lưới và phao. Theo thời gian, diện tích bèo được phát triển dần quanh khu vực lồng cá.

“Bèo Tây xử lý môi trường, hút kim loại nặng trong nước. Bèo còn giúp cân bằng nhiệt độ, làm mát nước vào mùa hè và giữ nhiệt vào mùa đông. Đặc biệt, đây cũng là nguồn thức ăn tự nhiên cho một số loài cá như chép, rô phi, cá trắm...”, ông Tuyên giải thích.

Môi trường nước quyết định trực tiếp đến sức khỏe và chất lượng cá. Theo ông Tuyên, cán bộ thủy sản thường xuyên lấy mẫu nước kiểm tra. Độ pH tại khu vực nuôi dao động khoảng 6,5 - 7,5, tương đối ổn định, lượng oxy hòa tan trong nước cũng phù hợp cho cá phát triển.

Việc kiểm soát môi trường cùng cách tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên giúp mô hình giảm một phần chi phí thức ăn, tạo ra sản phẩm chất lượng.

Ở những lồng cá của ông Tuyên, thức ăn không hoàn toàn phụ thuộc vào cám công nghiệp. Với cá lăng chấm và một số loài nuôi phù hợp, gia đình tận dụng cá mè, cá tép có sẵn trong hồ làm thức ăn. Một số loại cá còn được cho ăn bèo Tây, bèo tấm, lá sắn, lá chuối. Cám công nghiệp vẫn được sử dụng nhưng phải lựa chọn sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, từ những cơ sở đủ điều kiện.

Việc kết hợp thức ăn tự nhiên với thức ăn công nghiệp giúp kiểm soát tốt hơn chất lượng đàn cá. Những loại cá được nuôi bằng nguồn thức ăn tự nhiên có thịt chắc và thơm hơn. Đây cũng là nguyên tắc được HTX Thủy sản Đại Từ duy trì trong quá trình sản xuất, kiểm soát từ con giống, thức ăn đến môi trường và quy trình chăm sóc.

HTX Thủy sản Đại Từ được thành lập năm 2020, hiện có khoảng 9 thành viên với 3 cơ sở nuôi, tổng diện tích khoảng 5.000m2 mặt nước. Mô hình của HTX đã có đầu ra ổn định, chủ yếu cung cấp cá cho các nhà hàng, cơ sở kinh doanh quanh khu du lịch hồ Núi Cốc và các tỉnh, thành trên cả nước.

Các thành viên HTX thường xuyên tham gia các lớp tập huấn về nuôi trồng thủy sản. Hiện 2/3 diện tích nuôi của HTX đã có chứng nhận VietGAP. Quá trình hướng dẫn, đánh giá được thực hiện định kỳ, từ vệ sinh môi trường, lựa chọn giống, thức ăn đến quy trình nuôi.

Ông Tuyên mong rằng nếu có cơ hội phát triển du lịch trực tiếp trên lòng hồ gắn với nuôi cá, hồ Núi Cốc sẽ tạo ra sự khác biệt, thu hút thêm nhiều hộ tham gia phát triển thủy sản.