Nông nghiệp công nghệ cao TP.HCM: [Bài 1] Điểm tựa vốn, giống và đầu ra
![Nông nghiệp công nghệ cao TP.HCM: [Bài 1] Điểm tựa vốn, giống và đầu ra](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/800w/files/thuynt/2026/10/14/1622-htx-nong-nghiep-tuan-ngoc-8-115623_230-115627.jpg)
TP.HCM tiếp tục triển khai các chính sách hỗ trợ đầu tư, liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, tạo động lực nhân rộng mô hình, phát triển nông nghiệp bền vững.
Khoa học, công nghệ đã mang lại hiệu quả rõ rệt về năng suất, lao động và khả năng kiểm soát sản xuất. Để các mô hình nông nghiệp công nghệ cao có thể mở rộng quy mô và phát huy hiệu quả lâu dài, thành phố đã ban hành nhiều chính sách phù hợp với thực tiễn.
1.000 m² rau thủy canh cho năng suất gấp 5 lần
Là một trong những mô hình đi đầu trong ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất rau ăn lá trên địa bàn TP.HCM, HTX Nông nghiệp Tuấn Ngọc (phường Long Trường) đã đầu tư bài bản ngay từ đầu. Tại các khu nhà màng, công nghệ được ứng dụng để theo dõi liên tục nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng và lượng dinh dưỡng trong nước. Nhiều công đoạn như phun sương, cắt nắng, thông gió, kiểm soát nhiệt độ cũng được tự động hóa, qua đó giảm đáng kể lao động thủ công.
Ông Lâm Ngọc Tuấn, Giám đốc HTX Nông nghiệp Tuấn Ngọc cho biết, với 1.000 m² rau thủy canh, sản lượng trung bình có thể đạt 80-120 kg/ngày, cao gấp khoảng 5 lần canh tác truyền thống. Trong khi nếu sản xuất theo phương thức thông thường, để đạt sản lượng tương đương cần khoảng 1-2 ha đất.
Cùng diện tích 1.000 m², trước đây HTX cần khoảng 3 lao động thường xuyên. Nhưng hiện phần lớn công việc đã được hệ thống cảm biến và điều khiển tự động xử lý. Việc giám sát pH, môi trường, tưới và quản lý sản xuất cũng được số hóa, giúp giảm chi phí nhân công, hạn chế rủi ro và nâng khả năng kiểm soát quy trình.
Theo ông Tuấn, mô hình này đòi hỏi nhân lực có chuyên môn để vận hành hệ thống. Bên cạnh đó, áp lực vốn đầu tư khá lớn. Trong khi chính sách đất đai hiện chưa thực sự phù hợp với định hướng phát triển các mô hình ứng dụng công nghệ trong điều kiện đô thị.
Tương tự, ông Nguyễn Hồng Quyết, Giám đốc HTX Nông nghiệp Công nghệ cao Kim Long (xã Phú Giáo) cũng cho rằng, quá trình chuyển đổi số hiện còn vướng mắc về nhân lực, lựa chọn công nghệ và dữ liệu. Trên thị trường có nhiều giải pháp, nhưng không phải giải pháp nào cũng phù hợp với điều kiện sản xuất của hợp tác xã.
"Dữ liệu nông nghiệp hiện còn phân tán, chưa đồng bộ giữa các trung tâm dữ liệu, bộ, ngành và cổng thông tin, gây khó cho việc khai thác phục vụ sản xuất", ông Quyết nói và cho rằng, đầu tư công nghệ cuối cùng phải gắn với hiệu quả thị trường. Sản phẩm làm ra phải bán được, tạo giá trị ổn định thì công nghệ mới thực sự có ý nghĩa đối với người sản xuất.
Từ thực tế này, HTX Nông nghiệp Công nghệ cao Kim Long kiến nghị, chính sách hỗ trợ đầu tư công nghệ nên được thực hiện theo từng giai đoạn, phù hợp với khả năng của HTX. Việc số hóa dữ liệu có thể thực hiện trước, sau đó mới đầu tư cảm biến và các thiết bị phục vụ sản xuất. Chương trình đào tạo chuyển đổi số cũng cần được thiết kế đơn giản, trực quan, gắn với công việc hằng ngày.
Vấn đề giống cũng được đặt ra khi mỗi năm HTX này phải chi khoảng 5 tỷ đồng để nhập giống nhưng chưa có giống nào của Việt Nam. Ông Quyết cho rằng, các đề tài khoa học, công nghệ cần bám sát nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, HTX và hộ nông dân, trong đó nghiên cứu giống là vấn đề cần được quan tâm.
Mặt khác, có những chương trình hỗ trợ thiết thực nhưng khi HTX tìm hiểu tại địa phương, cán bộ cơ sở chưa nắm đầy đủ thông tin, chưa rõ thẩm quyền hoặc quy trình thực hiện. Việc giải quyết hồ sơ vì vậy có thể kéo dài, khiến HTX và người dân khó tiếp cận chính sách.
Ông Quyết kiến nghị, các cơ quan chuyên môn cập nhật, hướng dẫn đầy đủ hơn cho xã, phường, nhất là những thủ tục liên quan trực tiếp đến hợp tác xã. Quy trình cần cụ thể, thống nhất để cán bộ cơ sở có thể xử lý hồ sơ, hạn chế tình trạng phải chuyển qua nhiều cấp.
Giải bài toán vốn và đầu ra
Nhu cầu vốn càng trở nên rõ hơn khi các mô hình muốn mở rộng quy mô. Ông Trần Anh Tuấn, Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Năng lượng 102 cho biết, doanh nghiệp đang có nhu cầu mở rộng vùng sản xuất nấm mối đen, hướng tới sản lượng khoảng 2-5 tấn/ngày. Theo tính toán của doanh nghiệp, để đạt quy mô này cần phát triển khoảng 500-700 mô hình.
Doanh nghiệp đã đầu tư hơn 25 tỷ đồng cho mô hình sản xuất nấm mối đen và bắt đầu nghiên cứu, vận hành từ năm 2018. Quá trình sản xuất từng gặp tình trạng nhiễm khuẩn, sau đó doanh nghiệp tiếp tục cải tiến quy trình, đưa công nghệ vào kiểm soát sản lượng và chất lượng.
Theo ông Tuấn, trước khi nhân rộng mô hình cần có những hội thảo chuyên sâu để người dân, hợp tác xã hiểu rõ mức đầu tư, cách vận hành container, phôi nấm và quy trình sản xuất, qua đó có đủ thông tin trước khi quyết định tham gia.
Ở góc độ tiếp cận vốn, ông Nguyễn Hoàng Vũ Thiên, Giám đốc HTX Môi trường Bình Dương nêu thực tế, trước đây mức lãi suất tại Bình Dương khoảng 4,8%/năm, trong khi mức thấp nhất hiện nay được thông tin khoảng 7%/năm.
Ông Thiên đề nghị, các cơ quan liên quan nghiên cứu cơ chế phù hợp hơn để nguồn vốn thực sự phát huy vai trò hỗ trợ khu vực hợp tác xã, nhất là khi nhiều đơn vị vẫn gặp khó khăn về nguồn lực đầu tư.
Ông Tần Văn Viễn, Giám đốc HTX Dịch vụ Nông nghiệp An Sơn cũng đề nghị thông tin chính sách vốn cần công khai rõ quy mô nguồn quỹ, mức lãi suất, điều kiện vay, tài sản bảo đảm, hồ sơ và thủ tục để các đơn vị có thể chủ động tiếp cận.
Theo ông Viễn, ứng dụng khoa học, công nghệ cần đi sâu vào từng mô hình cụ thể, không chỉ dừng ở giới thiệu chung. Với những mô hình mới, người sản xuất cần được cung cấp đầy đủ thông tin về chi phí đầu tư, kỹ thuật, khả năng kết hợp với sản xuất hiện có và đầu ra sản phẩm.
"Trước khi nhân rộng, nguyên nhân thành công cũng như thất bại của những mô hình tương tự cần được phân tích kỹ. Chính sách và công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi phù hợp với điều kiện sản xuất và giúp mô hình duy trì ổn định", ông Viễn nói.
Người sản xuất chỉ thực sự mạnh dạn theo đuổi nông nghiệp công nghệ cao khi có đủ vốn để đầu tư, có thông tin để lựa chọn công nghệ phù hợp và có đầu ra ổn định cho sản phẩm.
Vì vậy, để các mô hình công nghệ không dừng ở những điểm sáng riêng lẻ, TP.HCM đang triển khai thực hiện các chính sách chung, trong đó có những chính sách kích cầu đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp.
Ông Vũ Ngọc Đăng, Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM cho biết, sau quá trình sắp xếp, thành phố tiếp tục triển khai các chính sách hỗ trợ sản xuất, trong đó có Nghị định 98 số 98/2018/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Trên cơ sở đó, thành phố đã ban hành Nghị quyết 496/NQ-HĐND về hỗ trợ liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Ngoài ra, thành phố còn có các chính sách liên quan đến cây trồng, vật nuôi, chính sách bảo hiểm trong nông nghiệp và nhiều nội dung hỗ trợ khác. Đây đều là những chính sách quan trọng, có tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân.
Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook
Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.