🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Xuất khẩu

Nông sản xuất khẩu: Rau quả tiến sát 5,9 tỷ USD, cà phê vượt 6 tỷ USD

Cập nhật: congly.vn
Nông sản xuất khẩu: Rau quả tiến sát 5,9 tỷ USD, cà phê vượt 6 tỷ USD

Nông sản xuất khẩu: Rau quả tiến sát 5,9 tỷ USD, cà phê vượt 6 tỷ USD

Nông sản xuất khẩu: Rau quả tiến sát 5,9 tỷ USD, cà phê vượt 6 tỷ USD

Rau quả tiếp tục là điểm sáng khi kim ngạch 8 tháng ước đạt gần 5,87 tỷ USD. Cà phê vượt 6 tỷ USD theo ước tính của Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam, trong khi gạo đạt gần 2,91 tỷ USD nhưng lượng và giá trị đều thấp hơn cùng kỳ.

Rau quả tháng thứ hai liên tiếp vượt 1 tỷ USD

Bức tranh xuất khẩu nông sản bước sang tháng 9 ghi nhận sự phân hóa khá rõ giữa các nhóm hàng.

Nổi bật nhất tiếp tục là rau quả. Ước tính trong tháng 8/2026, kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt khoảng 1,1 tỷ USD, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 14,6% so với cùng kỳ năm 2025.

Đây là tháng thứ hai liên tiếp xuất khẩu rau quả vượt mốc 1 tỷ USD.

Lũy kế 8 tháng năm 2026, kim ngạch nhóm hàng này đạt xấp xỉ 5,87 tỷ USD, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm trước.

Sầu riêng tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đà tăng của toàn ngành. Riêng 7 tháng đầu năm, xuất khẩu sầu riêng đạt khoảng 1,77 tỷ USD, tăng 47,1% so với cùng kỳ. Trung Quốc chiếm hơn 93% kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này.

Nguồn cung sầu riêng tại Tây Nguyên đang bước vào cao điểm, tạo điều kiện để duy trì lượng hàng xuất khẩu trong thời gian tới. Tuy nhiên, cùng với sản lượng, yêu cầu về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, kiểm dịch và truy xuất nguồn gốc vẫn là yếu tố doanh nghiệp phải đặc biệt lưu ý.

Cà phê vượt 6 tỷ USD nhưng giá trị vẫn thấp hơn cùng kỳ

Cà phê tiếp tục nằm trong nhóm nông sản mang về kim ngạch lớn nhất.

Theo ước tính của Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam, trong 8 tháng năm 2026, xuất khẩu cà phê đã mang về hơn 6 tỷ USD. Tuy nhiên, giá trị vẫn giảm khoảng 11,2% so với cùng kỳ năm 2025 do mặt bằng giá xuất khẩu thấp hơn.

Số liệu của Cục Hải quan tính đến ngày 15/8 cho thấy Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 1,26 triệu tấn cà phê, trị giá 5,72 tỷ USD. So với cùng kỳ, lượng xuất khẩu tăng 12% nhưng giá trị giảm 10%.

Riêng 15 ngày đầu tháng 8, xuất khẩu đạt 61.200 tấn, trị giá 266,1 triệu USD, tương đương giá bình quân khoảng 4.348 USD/tấn.

Diễn biến này tiếp tục phản ánh đặc điểm đáng chú ý của thị trường cà phê năm nay: lượng hàng xuất khẩu tăng nhưng mức giá bình quân thấp hơn giai đoạn giá cao của năm trước, khiến tốc độ tăng sản lượng chưa chuyển thành tăng trưởng tương ứng về kim ngạch.

Gạo đạt gần 2,91 tỷ USD

Trong 8 tháng năm 2026, Việt Nam ước xuất khẩu khoảng 6,03 triệu tấn gạo, thu về gần 2,91 tỷ USD.

So với cùng kỳ năm trước, lượng xuất khẩu giảm khoảng 5%, trong khi giá trị giảm 10,7%. Giá xuất khẩu bình quân ước đạt 481,5 USD/tấn, giảm 5,9%.

Dù vậy, giá xuất khẩu đã có dấu hiệu cải thiện từ tháng 7. Mức tham chiếu gần nhất đối với gạo 5% tấm Việt Nam được ghi nhận quanh 438–442 USD/tấn.

Diễn biến giá trong những tháng cuối năm vì vậy cần được theo dõi cùng với tình hình đơn hàng tại các thị trường nhập khẩu lớn. Trong bối cảnh cạnh tranh từ Thái Lan và Ấn Độ vẫn đáng kể, khả năng duy trì giá bán sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tới kim ngạch xuất khẩu gạo.

Hồ tiêu giữ giá xuất khẩu cao

Hồ tiêu tiếp tục duy trì mặt bằng giá xuất khẩu tương đối cao.

Theo số liệu cập nhật đến giữa tháng 8, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 179.344 tấn hồ tiêu, thu về khoảng 1,17 tỷ USD. Lượng xuất khẩu tăng khoảng 16% và giá trị tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước.

Trên thị trường quốc tế, giá tiêu đen Việt Nam loại 500 g/l hiện được tham chiếu quanh 5.990 USD/tấn, loại 550 g/l khoảng 6.050 USD/tấn. Tiêu trắng Việt Nam ở mức khoảng 8.400 USD/tấn.

Việc tốc độ tăng về lượng cao hơn tốc độ tăng kim ngạch cho thấy giá bình quân thực tế của các lô hàng không tăng tương ứng với sản lượng. Do đó, cần phân biệt giá chào theo từng quy cách với giá xuất khẩu bình quân trên tờ khai hải quan.

Hạt điều duy trì quy mô gần 3 tỷ USD

Hạt điều vẫn là một trong những nhóm nông sản có giá trị xuất khẩu lớn.

Trong 7 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 412.000 tấn hạt điều, thu về gần 2,9 tỷ USD. Khối lượng giảm nhẹ khoảng 0,1%, trong khi giá trị tăng hơn 3% so với cùng kỳ.

Diễn biến này trái chiều với cà phê và gạo: lượng xuất khẩu gần như đi ngang nhưng kim ngạch tăng, cho thấy giá trị xuất khẩu bình quân của hạt điều tiếp tục được duy trì ở mức tương đối cao.

Trung Quốc và Mỹ hiện là hai thị trường tiêu thụ hạt điều Việt Nam lớn nhất.

Sắn, chè và quế duy trì dòng hàng xuất khẩu

Với sắn và các sản phẩm từ sắn, 7 tháng đầu năm Việt Nam xuất khẩu hơn 2,1 triệu tấn, trị giá khoảng 756,2 triệu USD. Lượng xuất khẩu giảm khoảng 15,3% nhưng kim ngạch chỉ giảm 0,1% so với cùng kỳ, nhờ giá xuất khẩu bình quân cải thiện.

Giá xuất khẩu bình quân của nhóm hàng này đạt khoảng 359 USD/tấn. Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ chủ yếu.

Ở nhóm chè, 15 ngày đầu tháng 8, Việt Nam xuất khẩu 6.097 tấn, mang về hơn 12 triệu USD. Trước đó, trong 7 tháng đầu năm, xuất khẩu chè đạt hơn 64.000 tấn với trị giá gần 117 triệu USD.

Xuất khẩu quế trong 7 tháng đạt 73.085 tấn, kim ngạch khoảng 186,5 triệu USD, giảm nhẹ khoảng 1% về lượng và 0,6% về giá trị so với cùng kỳ.

Nhìn chung, bức tranh nông sản xuất khẩu đầu tháng 9 cho thấy rau quả đang tạo ra động lực tăng trưởng rõ nhất, trong khi cà phê và gạo vẫn chịu tác động từ mặt bằng giá xuất khẩu thấp hơn năm trước.

Hồ tiêu và hạt điều giữ được quy mô kim ngạch lớn, còn sắn, chè và quế tiếp tục duy trì dòng hàng xuất khẩu nhưng tốc độ tăng trưởng giữa các nhóm có sự khác biệt đáng kể.

Các số liệu 8 tháng của một số ngành hàng hiện mới là số liệu ước tính. Bộ số liệu thương mại tháng 8 và 8 tháng năm 2026 dự kiến được cơ quan thống kê công bố trong những ngày đầu tháng 9.