Nông sản xuất siêu giảm 60,6%: Gọi tên 'bẫy' gia công và hụt nguyên liệu

Nông sản xuất siêu giảm 60,6%: Gọi tên 'bẫy' gia công và hụt nguyên liệu
Nông sản xuất siêu giảm 60,6%: Gọi tên 'bẫy' gia công và hụt nguyên liệu
7 tháng của năm 2026, con số kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt 42,6 tỷ USD. Khá lớn. Nhưng một cảnh báo vang lên: nhóm nông sản chỉ còn xuất siêu 1,51 tỷ USD, giảm tới 60,6%. Điều đó cho thấy rằng, câu chuyện nội tại của ngành này không thật sự rực rỡ như con số bề nổi tỷ đô.
Tại hội nghị về xuất khẩu nông sản do Bộ NN - MT tổ chức mới đây tại TP.HCM, ông Ngô Hồng Phong, Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường, đã chỉ ra một thực tế đáng suy ngẫm: Dù nửa đầu năm nay toàn ngành vẫn xuất siêu 9,2 tỷ USD, nhưng mức xuất siêu này đã giảm 7,7% so với cùng kỳ do tốc độ nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu. Riêng nhóm nông sản chỉ còn xuất siêu 1,51 tỷ USD, giảm tới 60,6%.
Có nhà máy, có thị trường nhưng thiếu "xương sống"
Việt Nam tự hào có diện tích canh tác lớn, có nhà máy hiện đại và thị trường thế giới rộng mở. Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến lại rơi vào trạng thái "đầu voi đuôi chuột".
Ngành sắn là ví dụ. Khi vụ sản xuất 2026-2027 bước vào, nguồn cung củ tươi dự báo thiếu hụt, đẩy giá tinh bột lên cao. Nửa năm của 2026, có hơn 841 nghìn tấn sắn nguyên liệu được xuất khẩu, thu về 196,7 triệu USD. Nhưng, xuất khẩu từ các sản phẩm từ sắn giảm 27,1% về lượng và 8,5% về giá trị.
Hệ quả là các doanh nghiệp sắn lát khô phải cắn răng cạnh tranh gay gắt để giành giật từng củ sắn tươi.
Cùng với sắn là điều. Việt Nam là nước xuất khẩu điều nhân lớn nhất thế giới. Tính đến tháng 7/2026, các doanh nghiệp đã chi hơn 3 tỷ USD để nhập khẩu điều thô nguyên liệu (lên tới 1,827 triệu tấn trong 6 tháng).
Trong khi đó, xuất khẩu chỉ thu về gần 2,63 tỷ USD, khiến ngành rơi vào trạng thái nhập siêu khoảng 400 triệu USD.
Hiệp hội Điều Việt Nam (VINACAS) cho rằng, con số nhập siêu này mang tính chu kỳ rõ rệt, do đặc thù mua tích trữ nguyên liệu từ Campuchia (chiếm hơn 56,4%) và châu Phi vào giữa năm để chế biến cho mùa lễ hội cuối năm.
Nhưng rõ ràng, thực tế này phơi bày mức độ phụ thuộc quá lớn vào nguyên liệu ngoại. Khi giá nhập khẩu tăng từng ngày, chi phí vận tải quốc tế leo thang trong khi giá bán nhân điều không tăng kịp, khiến doanh nghiệp Việt Nam đã khó càng khó.
Áp lực tương tự cũng diễn ra ở ngành thủy sản, với hàng tỷ USD nhập nguyên liệu phục vụ chế biến, trong bối cảnh nuôi trồng nội địa oằn mình gánh chi phí thức ăn và dịch bệnh.
Việt Nam không hề thiếu nguyên liệu, mà là thiếu nguồn cung công nghiệp. Đó là nguồn nguyên liệu có sản lượng đủ lớn, chất lượng đồng đều, ổn định quanh năm và có thể dự báo trước.
Ba “bẫy” trói chân
Một, xuất thô - nhập tinh. Xuất khẩu khối lượng lớn nguyên liệu thô, hoặc đóng vai trò trung gian gia công với biên lợi nhuận thấp (như 10% lượng điều nhập khẩu đã qua sơ chế khiến nhà máy Việt Nam chỉ hưởng một phần giá trị nhỏ).
Bán ra rẻ, mua vào đắt các sản phẩm tinh chế hoặc chịu áp lực chi phí đầu vào đắt đỏ. Làm ra được con tôm, củ sắn, thì nông dân phải chịu đủ rủi ro về môi trường, đất đai, thiên tai và biến động giá quốc tế, nhưng phần giá trị thặng dư cao nhất lại rơi vào tay các quốc gia sở hữu công nghệ và thương hiệu.
Hai, "mù" thông tin và quản trị thời vụ. Điểm nghẽn không nằm ở diện tích, mà nằm ở phương thức tổ chức. Khi vùng nguyên liệu bị phân tán, liên kết ngắn hạn, các doanh nghiệp biến thành những "con thiêu thân" đi gom hàng mỗi mùa vụ, dễ bị thao túng bởi thị trường cung ứng bên ngoài (như Campuchia hay Châu Phi).
Thiếu hệ thống quản trị bằng dữ liệu (mã số vùng trồng, hồ sơ sản xuất, dự báo sản lượng), chuỗi cung ứng nông sản hoạt động thiếu tính bền vững.
Ba, "ai cũng hát, không người cầm đũa chỉ huy". Lâu nay, nông dân và các hợp tác xã phải tự gánh chịu rủi ro đầu ra, trong khi doanh nghiệp - những đơn vị nắm bắt thị trường quốc tế, lại đứng ngoài cuộc trong khâu gieo trồng.
Một nền công nghiệp chế biến mạnh không thể mọc lên trên một nền nguyên liệu tổ chức yếu ớt, nếu các doanh nghiệp lớn không chịu nhúng tay vào từ khâu định hình tiêu chuẩn vùng trồng và chủ động liên kết dài hạn.
Nông sản – giá trị và đi xa: Hãy quên con số hào nhoáng
Rõ ràng chúng ta vẫn đang trong tình trạng có gì bán nấy. Cây muốn sống tốt, cá tôm muốn khỏe mạnh, thì phải có “cốt nền” vững, tức là vùng nguyên liệu. Chừng nào còn làm móng, xây nhà kiểu cấp 4, thì đừng mơ chống được bão và thoát nạn xin trợ cấp.
Quá nhiều ý kiến đã nói gần thập niên qua, là phải thực hiện cuộc cách mạng vùng nguyên liệu. Theo đó, phải tái thiết liên kết theo chuỗi.
Doanh nghiệp phải là người đi đầu, đặt hàng từ nhu cầu thị trường (tiêu chuẩn gì, sản lượng bao nhiêu, thời điểm nào). Hợp tác xã là cánh tay nối dài để tổ chức nông dân sản xuất theo quy trình chuẩn, giảm dần sự bấp bênh từ nguồn cung bên ngoài.
Không thể mãi chấp nhận lối quản trị lỗi thời nữa. Phải đưa mã số vùng trồng và dữ liệu minh bạch vào quản trị để giải quyết bài toán dự báo cung - cầu, kiểm soát chi phí đầu vào và giảm thiểu rủi ro biến động giá quốc tế.
Gắn kết vùng trồng với chế biến sâu. Không xây dựng nhà máy rồi mới lo tìm nguyên liệu, cũng không trồng trọt tự phát rồi mới tìm đầu ra. Ví dụ mới nhất, là tại các xã Kim Điền, Trường Sơn của Quảng Trị, giá mật ong trước đây là 250 ngàn/lít, thì nay chỉ còn khoảng 110 nghìn đồng mỗi lít. Ông Đinh Hữu Mẫn, ở thôn Tân Hóa, xã Kim Điền, trong nhà hiện còn tồn đọng 30 lít không ai mua, mà theo ông, là không có doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm, cũng chẳng có nhà máy nào thu mua. Đó là hệ quả của hơn 10 năm trước chính quyền hô hào bà con nuôi để xóa đói giảm nghèo, phát triển sản phẩm OCOP nhưng đầu ra thì không tính.
Nông lâm thủy sản Việt Nam đã vươn ra biển lớn với doanh thu hàng chục tỷ USD. Nhưng bóng ma “kho gia công giá rẻ” còn đó. Sắp xếp lại vùng nguyên liệu, làm chủ chuỗi cung ứng và đẩy mạnh chế biến sâu chính là chiếc chìa khóa duy nhất để nông sản Việt vừa đi xa, vừa nắm trọn giá trị.
Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook
Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.