“Nóng” vấn đề tài chính cho sản xuất, xuất khẩu nông sản - Tạp chí Kinh tế

“Nóng” vấn đề tài chính cho sản xuất, xuất khẩu nông sản
“Nóng” vấn đề tài chính cho sản xuất, xuất khẩu nông sản
| Các diễn giả chia sẻ và trả lời doanh nghiệp tại Hội nghị. Ảnh: PV |
Bài toán tài chính cho người dân và doanh nghiệp
Chia sẻ tại Hội nghị, ông Tạ Quang Kiên, Phó Trưởng phòng Phát triển thị trường (Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường, Bộ Nông nghiệp và Môi Trường) cho biết, dù đang đối mặt với nhiều khó khăn, nhưng sau 7 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đã đạt 42,6 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2025.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực về xuất khẩu nông, lâm, thủy sản, vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần được tháo gỡ.
Thứ nhất, sản xuất nông nghiệp của Việt Nam nói chung và tại nhiều địa phương vẫn còn nhỏ lẻ, chưa hình thành được các vùng nguyên liệu quy mô lớn, tập trung. Chính hạn chế này khiến việc ứng dụng khoa học, công nghệ và các phương thức sản xuất hiện đại trên quy mô lớn gặp nhiều khó khăn, từ đó ảnh hưởng đến năng suất cũng như năng lực cạnh tranh của nông sản.
Bên cạnh đó, chất lượng nông sản cũng khó kiểm soát do phụ thuộc nhiều vào tính mùa vụ và điều kiện thời tiết. Chất lượng không ổn định là một trong những thách thức lớn đối với hoạt động xuất khẩu.
Thứ hai, các rào cản kỹ thuật và thương mại trên thị trường quốc tế ngày càng gia tăng. Hiện nay, nhiều quốc gia áp dụng các yêu cầu bắt buộc về truy xuất nguồn gốc; mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói để đáp ứng điều kiện của từng thị trường.
Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải tuân thủ nhiều quy định kỹ thuật mới như Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EU); các quy định về truy xuất nguồn gốc đối với gỗ hợp pháp; đối với thủy sản là các quy định về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).
Bên cạnh đó, các yêu cầu mới về giảm phát thải, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững cũng đang trở thành những tiêu chuẩn quan trọng mà doanh nghiệp phải đáp ứng trong sản xuất và xuất khẩu nông sản.
Thứ ba*,* thách thức trong việc kiểm soát chất lượng trên toàn bộ chuỗi giá trị ngày càng tăng. Việc kiểm soát không chỉ dừng ở vùng nguyên liệu mà còn phải được thực hiện đồng bộ từ sản xuất, sơ chế, chế biến, vận chuyển đến tiêu thụ. Đây là yêu cầu đặt ra đối với toàn bộ chuỗi cung ứng nếu muốn nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
Trong khi đó, ông Cao Bá Đăng Khoa, Tổng Thư ký Hiệp hội Dừa Việt Nam cho biết, thực tế sản xuất và xuất khẩu nông sản Vĩnh Long cho thấy, người dân, doanh nghiệp và chính quyền đang gặp 3 “điểm nghẽn”: Chế biến sâu đang thiếu nguồn vốn trung và dài hạn (trên 80.000 hộ dân trồng dừa tại Vĩnh Long với trên 30.000 ha dừa đang rất cần nguồn vốn tín dụng); xây dựng kế hoạch thu hút đầu tư FDI; xây dựng chuỗi ngành dừa, chưa có chính sách tài chính riêng.
Đồng quan điểm ông Trần Văn Đức, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần đầu tư Dừa Bến Tre cho biết, việc hỗ trợ tài chính cho người dân và doanh nghiệp trong sản xuất và xuất khẩu nông sản là hết sức cần thiết. Nếu tháo gỡ được vấn đề không chỉ riêng ngành dừa mà các sản phẩm nông sản khác của Vĩnh Long sẽ ngày càng mở được thị trường xuất khẩu.
Liên quan đến vấn đề tài chính cho người nông dân trong sản xuất nông sản, ông Nguyễn Đình Tùng, Phó chủ tịch Hiệp hội rau quả Việt Nam kiến nghị, nên chăng coi cây lâu năm nên coi là tài sản, người dân có thể dùng tài sản này để thế chấp với các tổ chức tín dụng vay vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh.
Trong khi đó, ông Nguyễn Trung Kiên, đại diện Ban Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Hiệp hội doanh nghiệp, dịch vụ Logistics Việt Nam cho rằng, nhiều sản phẩm hiện không chứng minh nguồn gốc của mình, hoặc chứng minh được nhưng lại chưa đảm bảo yêu cầu của một số quốc gia nên đang gặp khó khăn trong việc cấp “hộ chiếu số” cho sản phẩm.
Hiểu đúng về chuỗi giá trị sẽ tháo được “điểm nghẽn”
Theo ông Lê Công Thành, Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước khu vực 14, chúng ta hay nhắc đến chuỗi giá trị nông sản, tuy nhiên lại rất ít doanh nghiệp, người dân thậm chí các cơ quan chức năng hiểu đúng về chuỗi giá trị.
| Ông Trần Văn Đức, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần đầu tư Dừa Bến Tre chia sẻ tại Hội nghị. Ảnh: PV |
“Chuỗi giá trị phải được đi từ khâu sản xuất cho đến chế biến và tiêu thụ. Chuỗi giá trị phải có hợp đồng liên kết, xây dựng sản lượng để ký kết với từng hộ dân, đặc biệt phải có ngân hàng tham gia, thậm chí không cần thế chấp tài sản. Đây chính là điểm nghẽn chính cần sớm tháo gỡ, bởi nguồn vốn chỉ phát huy được hiệu quả khi gắn liền với hợp tác xã và có ký hợp đồng cụ thể với người dân, doanh nghiệp trong việc thực chuỗi giá trị”, Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước khu vực 14 phân tích.
Trao đổi về hạn chế trong việc huy động và phân bổ nguồn lực tài chính đang ảnh hưởng đến phát triển chuỗi giá trị nông sản xuất khẩu của tỉnh Vĩnh Long, ông Huỳnh Thanh Sơn, Phó giám đốc Sở Tài chính tỉnh Vĩnh Long cho biết, từ ngày 1/7/2025 đến nay, bên cạnh triển khai các chính sách của Trung ương trong vấn đề ưu đãi đầu tư, một số chính sách trong hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã, bố trí vốn đầu tư công và kêu gọi đầu tư ngoài ngân sách, Vĩnh Long cũng có những hạn chế trong huy động và phân bổ nguồn lực tài chính, cụ thể:
Thứ nhất, tỷ trọng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước vẫn chiếm khá cao (năm 2026 bố trí 14.124,96 tỷ đồng), trong khi khả năng thu hút vốn tư nhân từ đầu năm 2026 đến nay cấp mới được 9 dự án (1 dự án FDI) với số vốn là 0,63 triệu USD và 737,87 tỷ đồng, trong đó các dự án đầu tư cho nông nghiệp vẫn còn thấp. Hiện nay, lũy kế toàn tỉnh có 83 dự án (trong đó 7 Dự án FDI) đầu tư vào các ngành liên quan nông nghiệp, nông thôn với tổng vốn đăng ký khoảng 49,97 triệu USD và 10.940 tỷ đồng, chủ yếu là nuôi cá, tôm, thủy sản, nuôi nghêu.
Thứ hai, về huy động nguồn lực, chính sách ưu đãi tài chính tại địa phương chưa đủ mạnh để kéo các doanh nghiệp “đầu tàu” hay doanh nghiệp dẫn đầu đầu tư các chuỗi khép kín. Bên cạnh đó, các hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa đủ vốn mạnh để đổi mới công nghệ, cũng như năng lực thích ứng chưa cao.
Thứ ba, về phân bổ nguồn lực, mặc dù tỉnh đã nỗ lực nhưng nhu cầu đầu tư hiện nay khá cao, chưa bao phủ toàn bộ nhu cầu hạ tầng kỹ thuật trọng điểm, dẫn đến sự thiếu hụt các trung tâm logistics, kho bảo quản và hệ thống kho lạnh quy mô lớn. Bên cạnh đó, nguồn vốn đầu tư công đôi lúc bị kéo dài tiến độ, giảm hiệu quả giải ngân do áp lực lớn từ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. Đối với bố trí kinh phí cho công tác kiểm định và quản lý mã số vùng trồng xuất khẩu tuy đã đẩy mạnh nhưng đôi lúc chưa theo kịp các thị trường khắt khe trong kiểm định tiêu chuẩn đối với hàng nhập khẩu.
Bên cạnh đó, các kênh tín dụng cũng còn khó khăn, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã vì thiếu tài sản thế chấp hoặc phương án tài chính chưa đạt chuẩn.
Trong khi đó, ông Tạ Quang Kiên cho rằng, để “khai thông” vấn đề xuất khẩu nông sản, doanh nghiệp phải nghiên cứu được quy định thị trường để thích ứng kịp thời; vùng nguyên liệu phải xác định được theo chuỗi, cập nhật tình hình mới; an toàn thực phẩm phải được thực hiện ngay trong sản xuất và hậu kiểm; đặc biệt là việc chuyển đổi số (mã số vùng trồng và mà số sản phẩm).
Để tháo gỡ cho sản xuất, xuất khẩu nông sản, ông Trần Quốc Tuấn, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Vĩnh Long cho biết, trong thời gian tới, Tỉnh ủy và UBND tỉnh Vĩnh Long xác định sẽ tập trung nâng cao chuỗi giá trị nông sản thông qua việc tổ chức lại vùng nguyên liệu; đẩy mạnh cấp mã số vùng trồng, mã số vùng nuôi và các điều kiện phục vụ truy xuất nguồn gốc.
Đồng thời, tỉnh Vĩnh Long cũng sẽ sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có để hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới máy móc, thiết bị, nâng cao năng lực chế biến nhằm gia tăng giá trị nông sản. Song song đó là đẩy mạnh xúc tiến thương mại theo từng thị trường trọng điểm, nghiên cứu kỹ nhu cầu và tiêu chuẩn của từng thị trường để tổ chức lại sản xuất, đáp ứng đúng yêu cầu của khách hàng.
“Vĩnh Long không thiếu tiềm năng, cũng không thiếu nông sản. Điều địa phương còn thiếu là một cơ chế kiểm soát hiệu quả chuỗi giá trị nông sản. Khi giải quyết được điểm nghẽn này, giá trị gia tăng của nông sản Vĩnh Long sẽ được nâng lên đáng kể”, ông Trần Quốc Tuấn khẳng định.
| Bà Nguyễn Thị Hồng Thu, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần tập đoàn Xuất nhập khẩu trái cây Chánh Thu Bến Tre chia sẻ tại Hội nghị. Ảnh: PV |
Chia sẻ tại Hội nghị, bà Nguyễn Thị Hồng Thu, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần tập đoàn Xuất nhập khẩu trái cây Chánh Thu Bến Tre cảm thấy rất vui vì cảm nhận được sự đồng hành của các cơ quan chức năng, doanh nghiệp không còn phải “tự bơi” trong sản xuất kinh doanh nông sản, mà ngược lại cảm thấy tự tin hơn trong đầu tư phát triển sắp tới, nhất là việc các cơ quan chức năng đề cập đến chuỗi giá trị.
Chia sẻ tại Hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long Nguyễn Trúc Sơn cho biết, sau khi lắng nghe các diễn giả, doanh nghiệp chia sẻ những vấn đề gì thuộc thẩm quyền của đia phương, tỉnh Vĩnh Long sẽ “tháo gỡ” trong thời gian sớm nhất. Những vấn đề nghẽn về thể chế, nghẽn về chính sách, các đại biểu HĐND, đại biểu Quốc hội đang có mặt tại Hội nghị sẽ tiếp thu để góp ý vào quá trình xây dựng và sửa đổi luật chuẩn bị diễn ra trong tháng 8 này tại Quốc hội.
“Thay mặt UNND tỉnh Vĩnh Long, tôi xin trân trọng cảm ơn Bộ Tài chính, Tạp chí Kinh tế - Tài chính cùng đại diện các Cục, Vụ, Viện thuộc các bộ, ngành Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng như đông đảo doanh nghiệp đã đồng hành và hỗ trợ tỉnh Vĩnh Long tổ chức thành công Hội nghị này”, ông Nguyễn Trúc Sơn chia sẻ.