Phát triển chăn nuôi gắn với truy xuất nguồn gốc, liên kết tiêu thụ sản phẩm

Ngành chăn nuôi đang chuyển dịch mạnh mẽ sang nâng cao chất lượng, xem truy xuất nguồn gốc minh bạch và liên kết chuỗi là giải pháp cốt lõi để phát triển bền vững.
Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn
Sáng 14/8, tại Hải Phòng, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Hải Phòng tổ chức Tọa đàm Khuyến nông năm 2026 với chủ đề “Giải pháp phát triển chăn nuôi gắn với truy xuất nguồn gốc và liên kết tiêu thụ sản phẩm”.
Theo Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, trong cơ cấu ngành nông nghiệp, chăn nuôi giữ vai trò trụ cột bảo đảm nguồn cung thực phẩm, tạo việc làm và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
Năm 2025, mặc dù chịu tác động của dịch bệnh và thiên tai, sản xuất chăn nuôi vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực: sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 5,389 triệu tấn (tăng 3,9%), thịt gia cầm đạt 2,602 triệu tấn (tăng 5,9%), trứng gia cầm đạt 21,4 tỷ quả (tăng 5,3%) và sữa tươi đạt khoảng 1,3 triệu tấn (tăng 5,5%). Tuy nhiên trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường, toàn ngành cần chuyển mạnh từ phát triển dựa trên quy mô sang nâng cao chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng.
Chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021 - 2030 nhấn mạnh việc tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, gắn sản xuất với chế biến và thị trường. Trong đó, truy xuất nguồn gốc giúp kiểm soát chất lượng, an toàn dịch bệnh. Ngược lại, liên kết tiêu thụ tạo động lực kinh tế để người chăn nuôi duy trì dữ liệu.
Cốt lõi của truy xuất nguồn gốc phải là hệ thống dữ liệu đầy đủ, tin cậy từ sản xuất, giết mổ đến chế biến và phân phối chứ không đơn thuần chỉ là tem hay mã QR. Đến năm 2025, Hà Nội đã hình thành 172 chuỗi liên kết và cấp mã truy xuất cho trên 14.000 sản phẩm. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đã ra mắt Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam vào cuối năm 2025 và ban hành kế hoạch triển khai vào đầu năm 2026.
Thông qua các dự án khuyến nông, nhiều mô hình hiệu quả đã được nhân rộng. Chăn nuôi lợn VietGAHP mang lại giá bán cao hơn 5 - 10%, gắn liền với các thương hiệu như "Thịt heo Quế Lâm", “Xúc xích Công Danh”, “Thịt lợn tươi Thiên Thuận Tường”...
Chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học hình thành các thương hiệu “Gà đồi Tân Tiến”, “Gà ủ muối Ba Vì”... Chăn nuôi bò VietGAHP gắn với kinh tế tuần hoàn tăng hiệu quả 19,7 - 23,5%, định danh các sản phẩm như “Thịt bò H’Mông Cát Lý - Hà Giang”, “Thịt bò chất lượng cao HLBC”... Ngoài ra, các mô hình vật nuôi bản địa đã phát triển nhiều sản phẩm OCOP 3 - 4 sao như “Vịt quay Thu Hằng”, “Vịt biển Đông Xuyên”, “Mật ong Tâm An”, “Mật ong Bồ Đề”, “Mật ong Bắc Hà”, “Mật ong Sú Vẹt”...
Thực tiễn triển khai đã mang đến nhiều bài học giá trị. Việc truy xuất nguồn gốc bắt buộc phải xuất phát từ khâu sản xuất được kiểm soát chặt chẽ. Bên cạnh đó, việc tổ chức nông dân tham gia các hợp tác xã đóng vai trò vô cùng quan trọng. Sự đồng hành của doanh nghiệp ngay từ giai đoạn đầu là yếu tố then chốt bảo đảm thành công. Cuối cùng, hệ thống khuyến nông cần tiếp tục phát huy tối đa vai trò cầu nối nhằm tổ chức, kết nối và thúc đẩy hiệu quả toàn chuỗi giá trị.
Tháo gỡ nút thắt trong tổ chức liên kết và quản trị dữ liệu chuỗi
Bên cạnh những kết quả tích cực, phát triển chăn nuôi gắn với truy xuất nguồn gốc vẫn vấp phải không ít nút thắt. Thực tế cho thấy sản xuất ở nhiều nơi vẫn còn nhỏ lẻ, phân tán. Liên kết chuỗi thiếu tính bền vững. Công tác ghi chép và cập nhật dữ liệu chưa được thực hiện thường xuyên tại nhiều cơ sở. Hạ tầng giết mổ, chế biến, bảo quản cùng hệ thống logistics chưa đồng bộ. Thêm vào đó, sự chênh lệch giá bán chưa đủ tạo động lực kinh tế cho người sản xuất, trong khi năng lực quản trị của các hợp tác xã và hộ chăn nuôi còn nhiều hạn chế.
Theo ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, sự hiện diện đông đủ của đại diện cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, doanh nghiệp cùng nông dân tiêu biểu đến từ Hải Phòng, Quảng Ninh và Hưng Yên tại toạ đàm sẽ là cơ sở quan trọng để đánh giá toàn diện bức tranh thực tiễn. Ông đề nghị các đại biểu tập trung thảo luận thấu đáo nhằm tháo gỡ các vấn đề cốt lõi, cụ thể như: tổ chức lại sản xuất để xây dựng chuỗi liên kết bền vững; hình thành hệ thống truy xuất nguồn gốc thực chất, có tính liên thông cao; phát triển thị trường nhằm tạo động lực kinh tế sòng phẳng cho toàn chuỗi giá trị.
Ông Vũ Bá Công, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Hải Phòng cho biết, năm 2025, giá trị sản xuất chăn nuôi trên địa bàn đạt trên 13.047 tỷ đồng, chiếm trên 32% giá trị sản xuất nông nghiệp; tổng đàn lợn trên 610 nghìn con, gia cầm trên 26,1 triệu con. Toàn Thành phố có 1.042 trang trại chăn nuôi, trong đó chăn nuôi trang trại chiếm trên 51% tổng đàn.
Cùng với quy mô sản xuất, Thành phố đã từng bước hình thành nền tảng cho chăn nuôi hàng hóa và an toàn với 18 vùng chăn nuôi tập trung, khoảng 200 trang trại hoạt động hiệu quả, 100 cơ sở được chứng nhận an toàn dịch bệnh và 88 sản phẩm chăn nuôi được chứng nhận OCOP. Một số cơ sở đã áp dụng VietGAHP và truy xuất nguồn gốc bằng mã QR. Thành phố cũng đã định hướng quy hoạch 50 khu, vùng chăn nuôi tập trung gắn với giết mổ công nghệ cao đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050.
"Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Hải Phòng cam kết sẽ tiếp tục phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, các cơ quan trung ương, các địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã, các nhà khoa học và người chăn nuôi để chuẩn hóa sản xuất, nâng cao chất lượng, thúc đẩy truy xuất nguồn gốc, xây dựng các chuỗi liên kết và mở rộng thị trường, góp phần nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm chăn nuôi Hải Phòng", ông Vũ Bá Công nhấn mạnh.
Trong khuôn khổ tọa đàm, phiên thảo luận đã diễn ra sôi nổi. Các đại biểu thẳng thắn chia sẻ những khó khăn, vướng mắc từ thực địa, đồng thời đề xuất nhiều giải pháp khả thi về cơ chế chính sách, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, minh bạch thông tin truy xuất...
Ông Lê Minh Lịnh, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho biết Trung tâm sẽ tiếp thu, tổng hợp đầy đủ các ý kiến, kiến nghị và đề xuất tại tọa đàm làm cơ sở báo cáo, tham mưu phục vụ công tác chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các cơ quan chuyên ngành trong phát triển chăn nuôi theo chuỗi giá trị, tăng cường truy xuất nguồn gốc, bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm và gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm. Cùng với đó, phối hợp với các địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã và các đơn vị liên quan để thúc đẩy triển khai các giải pháp phù hợp trong thực tiễn.