🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Phát triển vùng nguyên liệu tập trung, thị trường dẫn dắt sản xuất

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
Phát triển vùng nguyên liệu tập trung, thị trường dẫn dắt sản xuất

Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu phát triển vùng nguyên liệu có trọng tâm, lấy HTX làm nòng cốt, doanh nghiệp làm hạt nhân liên kết và thị trường định hướng sản xuất.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định 3411/QĐ-BNNMT phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án “Phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung giai đoạn 2026-2030”, nhằm chuyển các mục tiêu của Đề án thành nhiệm vụ cụ thể, xác định rõ cơ quan chủ trì, nguồn lực, tiến độ và kết quả đầu ra. Trọng tâm là hình thành các vùng sản xuất có tổ chức, hạ tầng, dữ liệu, công nghệ, liên kết chế biến và thị trường.

Việc triển khai ưu tiên các vùng có tiềm năng, nhu cầu thị trường, khả năng liên kết chuỗi và huy động nguồn lực; đồng thời thực hiện theo nguyên tắc “6 rõ”, bảo đảm đầu tư tập trung, tránh dàn trải, nâng cao hiệu quả và tính bền vững.

Chọn đúng vùng, tổ chức lại sản xuất theo nhu cầu thị trường

Một trong những nhiệm vụ đầu tiên là rà soát, lựa chọn khoảng 250-300 vùng nguyên liệu tiềm năng trên phạm vi cả nước theo nhóm ngành hàng và vùng sinh thái. Đây sẽ là cơ sở để các địa phương lựa chọn, đăng ký vùng ưu tiên, thay vì phát triển đồng loạt nhưng thiếu điều kiện tổ chức sản xuất, thị trường hoặc nguồn lực đầu tư.

Kế hoạch yêu cầu vùng nguyên liệu được lựa chọn phải có phương án tổ chức sản xuất, liên kết thị trường, xác định nhu cầu đầu tư và khả năng huy động nguồn lực. Trong đó, hợp tác xã, tổ hợp tác là nòng cốt tổ chức sản xuất; doanh nghiệp là hạt nhân liên kết; thị trường là cơ sở định hướng sản xuất.

Cách tiếp cận này nhằm xử lý một vấn đề căn bản của vùng nguyên liệu: sản xuất phải được tổ chức theo nhu cầu của chuỗi giá trị chứ không chỉ dựa vào khả năng cung ứng tại chỗ. Vì vậy, ngay từ khâu lựa chọn, từng vùng phải xác định hiện trạng sản xuất, hệ thống hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ sản xuất, trang trại, doanh nghiệp liên kết; đồng thời làm rõ nhu cầu về hạ tầng, khoa học công nghệ, cơ giới hóa, chuyển đổi số, chế biến, thị trường và nguồn lực.

Theo phân công, trong giai đoạn 2026-2027 sẽ xây dựng bộ tiêu chí, hướng dẫn rà soát và hình thành danh mục khoảng 250-300 vùng nguyên liệu tiềm năng. Năm 2027, các vùng được lựa chọn tiếp tục xây dựng hồ sơ, phương án phát triển cụ thể.

Cùng với lựa chọn vùng, tổ chức sản xuất được coi là khâu quyết định. Các hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ sản xuất và trang trại sẽ được hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị, xây dựng phương án sản xuất - kinh doanh, quản lý chất lượng, hợp đồng, dữ liệu và điều phối sản xuất. Công tác đào tạo cũng tập trung vào kỹ năng quản trị hợp tác xã, liên kết chuỗi, kỹ năng số, cơ giới hóa và an toàn lao động.

Mạng lưới khuyến nông cộng đồng được củng cố để đưa tiến bộ kỹ thuật đến trực tiếp vùng nguyên liệu; xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất bền vững, phát thải thấp. Qua đó, mục tiêu không đơn thuần là hình thành một “vùng sản xuất lớn”, mà quan trọng hơn là tạo ra một hệ thống sản xuất đủ năng lực đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của chế biến và thị trường.

Đầu tư hạ tầng phải đi cùng dữ liệu và công nghệ

Một vùng nguyên liệu khó phát huy hiệu quả nếu đường giao thông, thủy lợi, kho chứa, sơ chế, bảo quản hay logistics không theo kịp quy mô sản xuất. Vì vậy, Kế hoạch yêu cầu rà soát và ưu tiên đầu tư hạ tầng giao thông kết nối, thủy lợi, điểm tập kết, sơ chế, bảo quản, kho chứa và các hạ tầng dùng chung thiết yếu.

Điểm mới trong cách tổ chức thực hiện là đầu tư hạ tầng phải gắn với quy mô vùng, nhu cầu thị trường và đặc biệt phải có phương án quản lý, vận hành sau đầu tư. Nguồn lực sẽ được lồng ghép từ ngân sách nhà nước, vốn đầu tư công, kinh phí sự nghiệp, ODA, viện trợ, vốn doanh nghiệp, hợp tác xã, hợp tác công tư và các nguồn hợp pháp khác. Việc sử dụng nguồn lực phải đúng mục đích, công khai, minh bạch, không trùng lặp và ưu tiên những vùng có khả năng phát huy hiệu quả đầu tư.

Song hành với hạ tầng vật chất là hạ tầng dữ liệu. Bộ yêu cầu xây dựng, chuẩn hóa, cập nhật và khai thác cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu; kết nối với các hệ thống hiện có; ứng dụng bản đồ số, nhật ký sản xuất điện tử, quản lý mã số và truy xuất nguồn gốc.

Trong giai đoạn 2027-2030, Cục Chuyển đổi số được giao hướng dẫn yêu cầu kỹ thuật, cấu trúc dữ liệu, cơ chế kết nối, chia sẻ; qua đó hình thành cơ sở dữ liệu, bản đồ số và nhật ký sản xuất điện tử phục vụ quản trị vùng nguyên liệu.

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cũng được đặt vào trung tâm của quá trình này. Vụ Khoa học và Công nghệ chủ trì thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao quy trình, giải pháp, công nghệ và tiến bộ kỹ thuật; trong đó chú trọng sản xuất xanh, giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu phù hợp từng vùng, từng ngành hàng trong giai đoạn 2027-2030.

Không để vùng nguyên liệu tách rời chế biến và thị trường

Nếu tổ chức sản xuất và hạ tầng là nền móng thì thị trường chính là yếu tố quyết định khả năng duy trì vùng nguyên liệu lâu dài. Bởi vậy, Kế hoạch dành trọng tâm lớn cho phát triển liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ sản xuất, trang trại với cơ sở thu mua, sơ chế, chế biến, logistics và hệ thống phân phối.

Các cơ quan chuyên môn sẽ hướng dẫn quản lý mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu thị trường; đồng thời hỗ trợ phát triển sơ chế, bảo quản, chế biến, kho chứa và logistics gắn trực tiếp với vùng nguyên liệu.

Từ năm 2027 đến 2030, hoạt động dự báo thị trường, xúc tiến thương mại và kết nối cung cầu sẽ được đẩy mạnh, hướng tới kết nối vùng nguyên liệu với doanh nghiệp chế biến, hệ thống phân phối và cả thị trường trong nước, xuất khẩu. Sản phẩm của từng vùng cũng được hỗ trợ quảng bá, giới thiệu nhằm mở rộng đầu ra.

Cùng với mở rộng thị trường, chất lượng liên kết phải được nâng lên. Mô hình sản xuất - chế biến - tiêu thụ, hợp đồng và thỏa thuận liên kết sẽ được củng cố, đánh giá và nhân rộng. Mục tiêu là tạo quan hệ ổn định hơn giữa người sản xuất với doanh nghiệp, hạn chế tình trạng liên kết chỉ mang tính thời điểm hoặc thiếu cơ chế chia sẻ trách nhiệm giữa các bên.

Để Kế hoạch đi vào thực chất, Bộ Nông nghiệp và Môi trường thiết lập cơ chế điều hành theo nguyên tắc “6 rõ”: rõ việc, rõ cơ quan chủ trì, rõ cơ quan phối hợp, rõ nguồn lực, rõ tiến độ và rõ kết quả đầu ra.

Trong đó, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn là cơ quan đầu mối theo dõi, đôn đốc, tổng hợp, kiểm tra, giám sát, đánh giá và tham mưu xử lý khó khăn, vướng mắc.

Ở địa phương, Sở Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm tham mưu UBND tỉnh, thành phố xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phù hợp với quy hoạch, điều kiện thực tế và khả năng huy động nguồn lực; đồng thời phối hợp lựa chọn vùng nguyên liệu, xác định nhu cầu về tổ chức sản xuất, hạ tầng, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chế biến, thị trường và liên kết chuỗi giá trị.

Đáng chú ý, Kế hoạch không chỉ đặt ra yêu cầu triển khai mà còn thiết lập cơ chế đánh giá để điều chỉnh theo thực tiễn. Việc kiểm tra, giám sát và đánh giá được thực hiện hằng năm; đánh giá giữa kỳ vào năm 2028 và tổng kết vào năm 2030, trên cơ sở đó đề xuất điều chỉnh nhiệm vụ, giải pháp, nguồn lực và định hướng phát triển vùng nguyên liệu cho giai đoạn tiếp theo.