Quy hoạch sông Cả để mùa khô không thiếu nước

Quy hoạch lưu vực sông Cả hướng tới phân bổ nguồn nước công bằng, bảo vệ hệ sinh thái, chủ động ứng phó hạn hán, lũ lụt, xây dựng nền tảng quản trị thông minh.
Sáng 21/8, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức cuộc họp Hội đồng thẩm định Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Cả thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Lưu vực sông Cả là lưu vực sông liên quốc gia, có diện tích khoảng 27.200 km² trên lãnh thổ Việt Nam và Lào. Riêng phần thuộc Việt Nam rộng khoảng 17.900 km², liên quan trực tiếp đến Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Trị và một số vùng phụ cận.
Tổng lượng nước mặt trên lưu vực khoảng 23,8 tỷ m³ mỗi năm nhưng phân bố rất không đều. Khoảng 75% dòng chảy tập trung trong mùa lũ, chỉ 25% vào mùa kiệt. Vì vậy, dù tổng lượng nước tương đối lớn, nhiều khu vực vẫn có nguy cơ thiếu nước cục bộ trong mùa khô, nhất là vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa và cuối hệ thống thủy lợi.
Lưu vực còn chịu sức ép từ nhu cầu sử dụng nước tăng, ô nhiễm, xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông và biến đổi khí hậu. Diễn biến nguồn nước thượng nguồn khó lường càng đặt ra yêu cầu quản lý thống nhất thay vì xử lý riêng lẻ theo từng địa phương, ngành hoặc công trình.
Phân bổ nước theo từng trạng thái
Đại diện Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia - đơn vị xây dựng Quy hoạch cho biết, dự thảo Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Cả xác định tài nguyên nước phải được quản lý tổng hợp theo lưu vực, thống nhất giữa số lượng và chất lượng, nước mặt và nước dưới đất, thượng lưu và hạ lưu, giữa các ngành và địa phương.
Nước phải trở thành yếu tố được tính đến ngay trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Định hướng phát triển đô thị, công nghiệp, nông nghiệp, năng lượng và hạ tầng phải dựa trên khả năng đáp ứng của nguồn nước, không để nhu cầu vượt quá sức chịu tải của lưu vực.
Quy hoạch chuyển từ khai thác đơn mục tiêu sang tích trữ, điều hòa và sử dụng nước đa mục tiêu; phân phối linh hoạt, phù hợp điều kiện từng vùng. Việc chia sẻ nước phải hài hòa giữa thượng lưu và hạ lưu, phát điện với cấp nước, phát triển kinh tế với duy trì dòng chảy và bảo vệ hệ sinh thái.
Mục tiêu tổng quát là bảo đảm an ninh nguồn nước, phân bổ tài nguyên công bằng, đáp ứng nhu cầu dân sinh, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học. Cùng với khai thác tiết kiệm, Quy hoạch đặt yêu cầu phòng ngừa suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm và phục hồi các nguồn nước bị tổn thương.
Quy hoạch dự báo biến động nguồn nước và nhu cầu sử dụng đến năm 2030, tầm nhìn 2050; đồng thời xác định chức năng nguồn nước, dòng chảy tối thiểu, ngưỡng khai thác nước mặt, nước dưới đất và những khu vực có nguy cơ hạn hán, thiếu nước.
Đến năm 2030, lượng nước mặt có thể phân bổ trên phần lưu vực sông Cả, ứng với tần suất 50%, khoảng 16,37 tỷ m³; ở tần suất 85% khoảng 9,59 tỷ m³. Nước dưới đất được xác định là nguồn bổ sung, dự phòng, nhất là khi nước mặt bị ô nhiễm hoặc không đáp ứng yêu cầu cấp nước sinh hoạt.
Trong điều kiện bình thường, nguồn nước được phân bổ trên cơ sở bảo đảm dòng chảy tối thiểu, nhu cầu thiết yếu và hiệu quả sử dụng. Khi xảy ra hạn hán, thiếu nước, thứ tự ưu tiên phải được xác định rõ, trước hết bảo đảm nước sinh hoạt và an sinh xã hội, sau đó phân bổ cho các ngành theo mức độ cần thiết và khả năng chịu cắt giảm.
Bảo vệ nguồn nước, giảm rủi ro cho hạ lưu
Bảo vệ tài nguyên nước là nội dung xuyên suốt của Quy hoạch. Các giải pháp tập trung vào bảo vệ chức năng nguồn nước, hành lang bảo vệ, rừng đầu nguồn, nguồn sinh thủy, hồ, ao có chức năng điều hòa và các nguồn nước có giá trị về đa dạng sinh học, lịch sử, văn hóa.
Hoạt động xả nước thải phải được kiểm soát theo sức chịu tải, không làm suy giảm chức năng nguồn nước. Đến năm 2030, dự thảo đặt mục tiêu công bố khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của 100% nguồn nước liên tỉnh; giám sát 80% công trình khai thác, sử dụng nước và xả thải thuộc diện phải giám sát; quản lý 100% hồ, ao không được san lấp và cắm mốc 50% nguồn nước thuộc diện phải thiết lập hành lang bảo vệ.
Quy hoạch cũng xác định các khu vực có nguy cơ ngập lụt, sạt lở bờ sông, xâm nhập mặn, sụt lún và suy giảm mực nước dưới đất để đưa ra giải pháp phù hợp. Phương châm là chủ động phòng ngừa, kết hợp giải pháp công trình và phi công trình, giảm thiểu thiệt hại cho người dân.
Đại diện thành viên Hội đồng, PGS.TS Ngô Lê Long (Trường Đại học Thủy lợi) đề nghị đơn vị xây dựng Quy hoạch tiếp tục rà soát nguồn gốc số liệu, thời kỳ tính toán và các kịch bản phát triển; cập nhật đầy đủ tác động của biến đổi khí hậu, hạn hán, lũ lớn, xâm nhập mặn và sự thay đổi nhu cầu sử dụng nước.
Một trong những vấn đề được PGS.TS Ngô Lê Long nhấn mạnh là phải làm rõ mối quan hệ giữa lượng nước tự nhiên, lượng nước có thể khai thác và lượng nước thực tế có thể phân bổ. Phương án phân bổ không nên chỉ tính theo tổng lượng nước cả năm mà cần cụ thể theo mùa, tháng, từng vùng và từng trạng thái nguồn nước.
Đặc biệt, Quy hoạch cần xác định rõ tỷ lệ phân bổ, mức cắt giảm và thứ tự ưu tiên cho từng nhóm sử dụng khi xảy ra hạn hán, thiếu nước. Đây là điều kiện quyết định khả năng áp dụng thực tế, tránh tình trạng khi nguồn nước suy giảm mới bắt đầu thỏa thuận, xử lý theo từng vụ việc.
GS.TS Trần Đình Hòa, Giám đốc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam đề nghị đơn vị tư vấn làm rõ vai trò của hệ thống hồ chứa thủy điện, thủy lợi và đập dâng; cơ chế vận hành phối hợp, trách nhiệm cung cấp số liệu và yêu cầu duy trì dòng chảy tối thiểu. Việc phát triển công trình mới phải được đánh giá trong tổng thể lưu vực, tránh gia tăng xung đột sử dụng nước hoặc tạo thêm sức ép cho hạ lưu.
Quy hoạch lưu vực sông Cả đồng thời phải bảo đảm thống nhất với Quy hoạch tài nguyên nước quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch điện lực, phòng chống thiên tai, thủy lợi và các quy hoạch ngành liên quan.
Đối với danh mục nhiệm vụ, dự án ưu tiên, các thành viên Hội đồng đề nghị làm rõ tiêu chí lựa chọn, thứ tự ưu tiên, mục tiêu đầu tư, cơ quan chủ trì, phối hợp và khả năng huy động nguồn lực. Các dự án sử dụng ngân sách nhà nước phải phù hợp quy định về đầu tư công và khả năng cân đối vốn.
Một số ý kiến đề nghị hoàn thiện tiêu chuẩn, định mức sử dụng nước theo từng ngành; thúc đẩy tuần hoàn, tái sử dụng nước, giảm thất thoát và nâng cao giá trị kinh tế của mỗi đơn vị nước. Đồng thời, cần làm rõ trách nhiệm hoàn trả, phục hồi lòng sông, lòng hồ và môi trường nguồn nước khi các công trình thủy điện, thủy lợi hết thời gian vận hành.
Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh đề nghị cơ quan lập Quy hoạch nghiêm túc tiếp thu ý kiến của các thành viên Hội đồng, tiếp tục rà soát số liệu, phương án phân bổ nước, danh mục nhiệm vụ ưu tiên và trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Quy hoạch sau khi được phê duyệt phải trở thành công cụ điều hòa, phân phối, bảo vệ và phục hồi nguồn nước trên toàn lưu vực. Giá trị của Quy hoạch không chỉ nằm ở số liệu hay bản đồ, mà ở khả năng hỗ trợ quyết định kịp thời, giảm xung đột và bảo đảm an ninh nguồn nước từ thượng nguồn đến hạ lưu.