🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Xuất khẩu

Rau quả vượt cà phê về giá trị xuất khẩu

Cập nhật: Báo Nông nghiệp và Môi trường
Rau quả vượt cà phê về giá trị xuất khẩu

Rau quả vượt cà phê về giá trị xuất khẩu

Giá trị xuất khẩu rau quả tháng 8/2026 ước đạt 1,24 tỷ USD, đưa tổng kim ngạch 8 tháng lên 6,02 tỷ USD, tăng 24,9% so với cùng kỳ năm 2025.

Kết quả này nhỉnh hơn mức 6 tỷ USD của cà phê, trong khi nhiều mặt hàng chủ lực như gạo, cao su, chè và sắn cùng giảm kim ngạch.

Theo Báo cáo kết quả xuất nhập khẩu nông sản 8 tháng năm 2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, rau quả hiện đứng đầu về giá trị trong các mặt hàng nông sản được thống kê riêng. Sau rau quả và cà phê là hạt điều với 3,35 tỷ USD, gạo 2,86 tỷ USD, cao su 1,86 tỷ USD và hạt tiêu 1,24 tỷ USD.

Cú bứt phá của rau quả

Cà phê từng tạo nên cuộc bứt phá mạnh nhất trong nhóm nông sản xuất khẩu. Từ khoảng 5,48 tỷ USD năm 2024, kim ngạch mặt hàng này tăng lên gần 9 tỷ USD trong năm 2025. Kết quả đưa cà phê từ vị trí thấp hơn rau quả trong năm 2024 lên nhóm dẫn đầu xuất khẩu nông sản.

Sau một năm, thứ hạng đảo chiều. 8 tháng đầu năm 2026, rau quả tăng 24,9%, đạt 6,02 tỷ USD; cà phê giảm 9,1%, còn 6 tỷ USD.

Chênh lệch hiện chỉ khoảng 20 triệu USD, nhưng đáng chú ý bởi rau quả đã san lấp khoảng cách gần 2 tỷ USD (so với cùng kỳ năm trước) và vượt mặt hàng từng đạt kim ngạch gần 9 tỷ USD trong năm 2025.

Đà tăng của rau quả góp phần giữ kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ở mức gần 49,31 tỷ USD, tăng 7% so với 8 tháng đầu năm 2025.

Tháng 8/2026 cũng là giai đoạn xuất khẩu rau quả đạt quy mô lớn nhất trong các mặt hàng. Giá trị ước tính 1,24 tỷ USD cao hơn thủy sản 1,08 tỷ USD; cà phê 545,6 triệu USD; hạt điều 445,4 triệu USD và gạo 240,6 triệu USD.

Kết quả trên xuất hiện trong lúc giá nhiều loại trái cây tại vùng sản xuất giảm do nguồn cung vào chính vụ. Cụ thể, giá sầu riêng Ri6 loại đẹp trong tháng 8 còn 41.842 đồng/kg, giảm 2.579 đồng; sầu riêng Monthong ở mức 71.526 đồng, giảm 1.632 đồng so với tháng 7/2026. Xoài cát Hòa Lộc loại 1 tại Đồng Tháp giảm còn 57.798 đồng/kg, xoài Cát Chu còn 23.579 đồng/kg.

Nhãn cũng bước vào giai đoạn thu hoạch rộ tại Hưng Yên, Sơn La và một số tỉnh ĐBSCL. Nguồn cung tăng khiến giá phổ biến ổn định hoặc giảm nhẹ so với đầu vụ.

Gần 60% rau quả xuất sang Trung Quốc

Trung Quốc chiếm 58,9% tổng giá trị xuất khẩu rau quả của Việt Nam, bỏ xa 2 thị trường tiếp theo là Hoa Kỳ với 7,6% và Hàn Quốc với 4,2%.

Theo số liệu 7 tháng đầu 2026, giá trị rau quả xuất sang Trung Quốc tăng 33,1% so với cùng kỳ năm 2025. Xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng 14,4%, Hàn Quốc tăng 9,6%. Trong 15 thị trường lớn nhất, Campuchia ghi nhận mức tăng cao nhất, gấp 2,5 lần.

Tỷ trọng gần 59% cho thấy Trung Quốc giữ vai trò quyết định đối với tốc độ tăng của ngành hàng rau quả. Đây cũng là thị trường lớn nhất của toàn bộ nhóm nông, lâm, thủy sản Việt Nam trong 8 tháng, chiếm 22,7%, cao hơn Hoa Kỳ (19,1%) và Nhật Bản (6,8%).

Giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản sang Trung Quốc ước tăng 22,1%, trong khi Hoa Kỳ giảm 0,4% và Nhật Bản tăng 2%. Xét theo khu vực, châu Á chiếm 45,5% tổng kim ngạch và tăng 11,3%. Châu Mỹ chỉ tăng 0,6%, châu Âu tăng 1,7%, còn châu Phi giảm 18,3%.

Sự gia tăng tại Trung Quốc không chỉ thể hiện ở rau quả. Giá trị gạo xuất khẩu sang thị trường này trong 7 tháng tăng 92,2%; cà phê tăng 72,7%; thủy sản tăng 37,1%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 46,4%; hạt điều tăng 18,3%.

Tuy nhiên, mức độ phụ thuộc lại khác nhau giữa các mặt hàng. Trung Quốc chiếm tới 91,1% xuất khẩu sắn và sản phẩm sắn, 58,4% cao su. Trong khi, thị trường này chiếm 43,2% thị trường gạo và 24% thủy sản.

Tăng trưởng phân hóa giữa các mặt hàng

Rau quả tăng mạnh trong khi một số mặt hàng xuất khẩu truyền thống lại giảm cả lượng lẫn giá trị. Gạo xuất khẩu đạt 6 triệu tấn và 2,86 tỷ USD trong 8 tháng, giảm 6,3% về lượng và 11,9% về giá trị. Giá xuất khẩu bình quân giảm 6%, còn 480,9 USD/tấn.

Cao su giảm 16,1% về lượng và 6,2% về giá trị, còn 1,86 tỷ USD. Chè giảm 10,2% về lượng và 2% về giá trị. Sắn và sản phẩm sắn giảm 19,7% về lượng, kim ngạch giảm 2,5%.

Cà phê có diễn biến khác. Khối lượng tăng 13,1%, đạt 1,3 triệu tấn, nhưng kim ngạch giảm 9,1%, còn 6 tỷ USD. Nguyên nhân được cho là giá xuất khẩu bình quân giảm 19,7%, xuống 4.538 USD/tấn. Đây cũng là lý do rau quả có thể vượt cà phê về giá trị dù khoảng cách chỉ 20 triệu USD.

Một số nhóm khác tiếp tục tăng. Thủy sản đạt 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 11,69 tỷ USD, tăng 5%; sản phẩm chăn nuôi đạt 511,9 triệu USD, tăng 30%. Trong nhóm chăn nuôi, sữa và sản phẩm sữa tăng 79,2%, lên 139,3 triệu USD.

Tổng kim ngạch nhập khẩu nông, lâm, thủy sản 8 tháng ước khoảng 35,06 tỷ USD, tăng 8,1%. Như vậy, Việt Nam tiếp tục xuất siêu khoảng 14,25 tỷ USD trong lĩnh vực này. Riêng tháng 8, xuất khẩu đạt 6,47 tỷ USD, giảm 3,5% so với tháng trước nhưng tăng 3,6% so với cùng kỳ. Nhập khẩu đạt 4,01 tỷ USD, lần lượt giảm 9,9% và 7,4%.

Xuất khẩu gạo sang Iraq tăng hơn 100 lần

Trong khi tổng kim ngạch xuất khẩu gạo giảm, một số thị trường ghi nhận mức tăng đột biến. Theo đó, giá trị xuất khẩu gạo sang Iraq trong 7 tháng đầu năm 2026 tăng 110,9 lần so với cùng kỳ 2025, cao nhất trong 15 thị trường lớn. Xuất khẩu sang Trung Quốc cũng tăng 92,2%.

Ở chiều ngược lại, kim ngạch xuất khẩu sang Philippines, thị trường từng chiếm gần một nửa lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam, giảm 5,1%. Ghana, thị trường lớn thứ 3, với thị phần 11%, giảm 12,3%. Bờ Biển Ngà giảm mạnh nhất, ở mức 59,3%.