🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Sẵn sàng cho thị trường các-bon rừng: [Bài 2] Đắk Lắk xây dựng nền dữ liệu

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
Sẵn sàng cho thị trường các-bon rừng: [Bài 2] Đắk Lắk xây dựng nền dữ liệu

Để biến hơn 770.000 ha rừng và đất lâm nghiệp thành nguồn thu bền vững, Đắk Lắk đang tích cực điều tra kiểm kê, phân định ranh giới, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu số.

Bể chứa các-bon khổng lồ và nỗ lực chuẩn hóa dữ liệu

Đắk Lắk có nhiều lợi thế trong việc triển khai dịch vụ hấp thu và lưu giữ các-bon từ rừng. Tỉnh sở hữu 776.509 ha đất có rừng (rừng tự nhiên 530.868 ha, rừng trồng 245.641 ha), đạt tỷ lệ che phủ 41,06%.

Sự đa dạng trạng thái rừng cùng hệ thống rừng đặc dụng lớn như Vườn quốc gia Yok Don, Chư Yang Sin, Ea Sô, Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Kar... tạo nên bể hấp thụ các-bon khổng lồ, ổn định. Đặc biệt, diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng gần 300.000 ha là dư địa lớn để triển khai các dự án trồng rừng mới tạo tín chỉ các-bon. Định hướng tái cơ cấu ngành lâm nghiệp của tỉnh cũng xác định chuyển đổi sang rừng trồng gỗ lớn và nông - lâm kết hợp là giải pháp tối ưu nhằm nâng cao trữ lượng các-bon lẫn giá trị kinh tế trên cùng diện tích đất.

Khi tham gia Chương trình giảm phát thải khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ (Sáng kiến LEAF), Đắk Lắk đóng góp giảm phát thải hơn 2 triệu tấn CO2 trên 537.319 ha rừng tự nhiên. Giai đoạn 2021-2025, nguồn tài chính điều phối mang về cho tỉnh dự kiến đạt 9,59 - 14,39 triệu USD (khoảng 251,95 đến 377,92 tỷ đồng). Ngoài ra, tỉnh có 212.303 ha rừng trồng và 310.386 ha đất lâm nghiệp chưa thành rừng, tạo dư địa lớn để chủ động tạo nguồn tín chỉ các-bon mới ngoài rừng tự nhiên.

Để chuẩn bị cơ sở dữ liệu cho việc thẩm định dự án, tỉnh Đắk Lắk đang triển khai đồng bộ các nhiệm vụ trọng tâm. Tỉnh thực hiện dự án điều tra, kiểm kê rừng toàn tỉnh nhằm xác định toàn diện hiện trạng diện tích, trữ lượng rừng, trữ lượng các-bon và đất lâm nghiệp chưa có rừng gắn với từng chủ quản lý. Hoạt động này giúp đánh giá biến động tài nguyên rừng theo các cấp hành chính, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý và giám sát. Đây cũng là cơ sở rà soát diện tích rừng bị chồng lấn, tranh chấp hay phân bố manh mún, từ đó tạo quỹ đất bố trí, ổn định dân cư cho đồng bào dân tộc thiểu số và hộ nghèo.

Cùng với kiểm kê, dự án phân định ranh giới rừng đang rà soát, hệ thống hóa hồ sơ pháp lý về ranh giới đất và quyền sở hữu rừng để xử lý dứt điểm ranh giới chồng lấn. Đây là điều kiện tiên quyết vì một dự án các-bon chỉ được phê duyệt khi quyền sở hữu tài sản xanh rõ ràng, không tranh chấp. Tỉnh cũng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, thiết lập Hệ thống cơ sở dữ liệu WEBGIS viễn thám tự động hóa phân tích dữ liệu. Đây là nền tảng kỹ thuật để chứng minh "đường cơ sở phát thải" và tính liên tục của rừng trước các đơn vị thẩm định quốc tế.

Ông Phạm Tấn Việt, Giám đốc Quỹ Bảo vệ, phát triển rừng và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cho biết**, **Nghị định số 180/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 15/7/2026) là khung pháp lý chính thức đầu tiên của Việt Nam quy định chi tiết về các dự án và dịch vụ hấp thụ, lưu giữ các-bon từ rừng. Tỉnh đã sớm tham gia các cơ chế quốc tế như Sáng kiến LEAF, tổ chức hội thảo tham vấn cấp tỉnh, cấp xã để nâng cao nhận thức, chuẩn bị dữ liệu kỹ thuật và phối hợp với các bộ, ngành Trung ương nhằm sớm triển khai giao dịch tín chỉ các-bon tự nguyện. Nghị định này làm thay đổi căn bản tư duy kinh tế lâm nghiệp, tức người giữ rừng chuyển từ tư duy chặt hạ, khai thác sang nuôi dưỡng rừng để lưu giữ các-bon. Rừng tự nhiên, nghèo kiệt hay rừng phòng hộ vốn không có giá trị khai thác gỗ thương mại nay trở thành tài sản sinh lời cao nhờ trữ lượng các-bon ổn định.

Tháo gỡ nút thắt kỹ thuật, kích hoạt giá trị tài sản xanh

Bên cạnh thuận lợi, theo ông Việt, việc xây dựng đề án mua bán tín chỉ các-bon từ rừng tại Đắk Lắk đối mặt nhiều rào cản. Việt Nam mới ở giai đoạn thị trường tự nguyện, chưa có thị trường bắt buộc nên việc định giá và giao dịch phụ thuộc hoàn toàn vào đàm phán song phương. Việc lập biện pháp kỹ thuật các-bon đòi hỏi dữ liệu chi tiết về sinh khối, mật độ các-bon từng trạng thái rừng qua các năm, trong khi hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ số phát thải đặc trưng cho rừng Tây Nguyên vẫn còn thiếu. Tiếp cận ảnh vệ tinh độ phân giải cao thời gian thực có chi phí quá đắt đỏ, trong khi hệ thống theo dõi hiện chủ yếu dùng ảnh miễn phí có độ tin cậy ở quy mô cấp xã chưa cao, khiến chủ rừng khó xác định chính xác trữ lượng các-bon chào bán.

Đồng thời, quy trình thiết lập Hệ thống Đo đạc - Báo cáo - Thẩm định (MRV) hay Đảm bảo chất lượng dữ liệu (QA/QC) theo chuẩn quốc tế rất phức tạp. Các chủ rừng tại Đắk Lắk (Ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, công ty lâm nghiệp) đang thiếu trầm trọng chuyên gia viễn thám và kinh tế các-bon. Chi phí thuê tư vấn quốc tế lập hồ sơ, đo đạc độc lập quá lớn đối với các đơn vị còn khó khăn tài chính.

Để hiện thực hóa thị trường các-bon rừng, Đắk Lắk tập trung số hóa và tích hợp bản đồ lâm nghiệp vào quy hoạch sử dụng đất, bảo vệ nghiêm ngặt diện tích rừng tự nhiên, giữ vững an ninh nguồn nước và đa dạng sinh học. Tỉnh đẩy mạnh chuyển đổi sang thâm canh gỗ lớn có chứng chỉ bền vững (FSC/VFCS), thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị lâm nghiệp công nghệ cao và kinh tế dưới tán rừng. Đồng thời, tỉnh hoàn thành đầu tư hệ thống WEBGIS viễn thám, phối hợp với tư vấn quốc tế xây dựng mức phát thải tham chiếu (FREL) chuẩn xác và hướng dẫn các chủ rừng lập hồ sơ sẵn sàng đón dòng vốn đầu tư.

Khi thị trường vận hành, nguồn thu từ tín chỉ các-bon sẽ tạo thêm nguồn lực tài chính giúp chủ rừng tăng cường tuần tra, giám sát, giảm áp lực phá rừng, lấn chiếm đất rừng và mua sắm trang thiết bị PCCC. Thị trường này thúc đẩy chuyển dịch từ gỗ nhỏ chu kỳ ngắn sang thâm canh gỗ lớn chu kỳ dài, phát triển chứng chỉ bền vững và mô hình nông - lâm kết hợp, giúp gia tăng trữ lượng các-bon lẫn giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích. Việc tham gia thị trường đòi hỏi chủ rừng nâng cao năng lực quản lý số và kiểm kê rừng theo chuẩn minh bạch. Đặc biệt, với diện tích rừng do cộng đồng, nhóm hộ và hộ gia đình quản lý tương đối lớn, thị trường tín chỉ các-bon sẽ tạo việc làm, tăng thu nhập trực tiếp cho người dân, đóng góp tích cực vào cải thiện sinh kế gắn với bảo vệ tài nguyên rừng bền vững.

Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook

Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.

Theo dõi fanpage