Sản xuất nông nghiệp vào cuộc đua nước rút cuối năm
.jpg)
Sản xuất nông nghiệp vào cuộc đua nước rút cuối năm
Thu hoạch lúa trên cánh đồng lớn tại tỉnh Tây Ninh. (Ảnh: KHÁNH AN)
Sản xuất ổn định, tăng tốc xuất khẩu
Số liệu từ Cục Thống kê cho thấy, 9 tháng năm 2026, nhiều nhóm sản phẩm nông nghiệp như lúa, cây ăn quả, chăn nuôi và thủy sản tiếp tục duy trì năng suất và sản lượng cao, đáp ứng nhu cầu trong nước và tạo nguồn hàng xuất khẩu. Cụ thể, xuất khẩu rau quả đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9%; thủy sản đạt 9,17 tỷ USD, tăng 12,3%; sản phẩm chăn nuôi đạt 564,4 triệu USD, tăng 24,6%; hạt điều đạt 3,85 tỷ USD, tăng 2%; hạt tiêu đạt 1,4 tỷ USD, tăng 10,2%...
Tuy nhiên, bức tranh xuất khẩu không đồng đều giữa các ngành hàng khi cà-phê và gạo có xu hướng giảm. 9 tháng đầu năm, ngành cà-phê xuất khẩu 1,4 triệu tấn, kim ngạch đạt 6,54 tỷ USD, tăng 15,4% về lượng nhưng giảm 7,3% về giá trị; gạo đạt 6,4 triệu tấn, trị giá 3,11 tỷ USD, giảm lần lượt 6,1% và 10,9% so với cùng kỳ năm 2025. Nguyên nhân chính là do giá xuất khẩu sụt giảm, cụ thể giá cà-phê xuất khẩu bình quân 9 tháng ước đạt 4.537,3 USD/tấn, giảm 19,7%; giá gạo xuất khẩu bình quân ước đạt 484,8 USD/tấn, giảm 5,1%. Riêng với gạo, sức ép còn đến từ thị trường tiêu thụ chính. Trong 8 tháng đầu năm, giá trị xuất khẩu gạo sang Philippines giảm 16,8% so với cùng kỳ. Điều này cho thấy diễn biến giá và sức mua tại từng thị trường đang tác động ngày càng rõ đến kết quả xuất khẩu.
Là ngành hàng có bước tăng trưởng mạnh trong 3 quý và kỳ vọng về đích 10 tỷ USD, ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho rằng, một trong những yếu tố thúc đẩy xuất khẩu là việc mở rộng thị trường Trung Quốc khi số lượng mã số vùng trồng, mã số đóng gói được phê duyệt tăng lên đáng kể. Theo đó, 8 tháng đầu năm 2026, Trung Quốc chiếm 63% thị phần; giá trị xuất khẩu rau quả sang thị trường này tăng 38,8% so với cùng kỳ năm 2025.
Để tiếp tục chuẩn hóa chất lượng, truy xuất nguồn gốc hàng hóa trong nước hướng tới phục vụ xuất khẩu, ngành nông nghiệp đang đẩy mạnh xây dựng hạ tầng dữ liệu, tăng khả năng kiểm soát và xác thực thông tin sản phẩm. Theo Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp, đến ngày 20/9/2026, hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản có 820.723 sản phẩm của 3.030 nông hộ và 208 doanh nghiệp tại 28/34 tỉnh, thành phố đã đăng ký; trong đó 158.796 sản phẩm của 48 nông hộ và 20 doanh nghiệp tại 16 tỉnh đã thực hiện truy xuất đầy đủ, có khả năng xác thực và đối soát trong toàn chuỗi.
Giữ thị trường và đa dạng nguồn cung
Chín tháng năm 2026, Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu nông, lâm, thủy sản lớn nhất của Việt Nam với 24,4% thị phần, tiếp đến là Hoa Kỳ 19,8% và Nhật Bản 7,4%. Để gia tăng kim ngạch xuất khẩu, các ngành hàng cần giữ vững những thị trường đang có sức mua tốt đồng thời chủ động nguồn cung để bảo đảm đơn hàng đã ký và sẵn sàng nhận đơn hàng mới.
Đối với thị trường trọng điểm Trung Quốc, bà Ngô Tường Vy, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn xuất nhập khẩu trái cây Chánh Thu chia sẻ: Chánh Thu đã chủ động đi sâu vào từng vùng trên địa bàn Trung Quốc để khảo sát, trực tiếp quan sát cách khách hàng mua hàng, tìm hiểu nhu cầu thực tế, thị hiếu và hành vi tiêu dùng. Từ đó điều chỉnh quy trình sản xuất, sơ chế, đóng gói và phát triển sản phẩm phù hợp. Thực tế tại Trung Quốc, hệ thống trung tâm phân loại, chế biến rất phát triển, vì thế sản phẩm sau khi nhập khẩu có thể tiếp tục được xử lý để phù hợp khẩu vị và nhu cầu tiện dụng của người tiêu dùng. Do đó, để thu hút khách hàng, doanh nghiệp Việt Nam cần phát triển các dòng sản phẩm thuận tiện, thậm chí có thể sử dụng ngay để đi sâu vào chuỗi giá trị.
Ở một số ngành hàng khác, ngoài đầu ra sản phẩm còn cần giải pháp cho cả nguồn cung. Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) Lê Hằng nhận định: Sau giai đoạn tăng tốc trong quý III, xuất khẩu thủy sản quý IV dự báo giảm nhịp. Nhiều đơn hàng phục vụ tiêu dùng cuối năm đã được nhập khẩu và giao sớm cho nên nhu cầu mua bổ sung khó duy trì mức cao như những tháng vừa qua. Thí dụ tôm, cá tra và cá rô phi đều đối mặt với hạn chế về nguyên liệu trong khi hải sản khai thác cũng khó mở rộng sản lượng xuất khẩu do thiếu nguyên liệu phù hợp và năng lực đáp ứng yêu cầu về nguồn gốc. “Vì vậy, ngay cả khi một số thị trường còn nhu cầu thì khả năng đáp ứng đơn hàng vẫn có thể bị giới hạn”, bà Lê Hằng nhấn mạnh.
Tình trạng tương tự cũng xuất hiện ở ngành điều khi giá trị xuất khẩu tăng nhưng sản lượng giảm, một phần do nguồn nguyên liệu chế biến trong nước chịu sức ép. Nguyên nhân là các nước cung cấp nguyên liệu lớn hiện đang đẩy mạnh chế biến tại chỗ cho nên nguồn hàng xuất khẩu không còn dồi dào, đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải sớm chủ động vùng nguyên liệu đạt yêu cầu.
Quý IV là chặng nước rút của năm, giai đoạn cao điểm để các ngành hàng đẩy mạnh xuất khẩu, đóng góp quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng chung. Để tận dụng cơ hội đó, cần có kế hoạch tổ chức sản xuất hợp lý hơn tại các vùng nguyên liệu nhằm đáp ứng đủ nguồn cung, đồng thời kiểm soát chặt chất lượng để sản phẩm đưa ra thị trường được “định giá” cao hơn.
Nguồn: Nhandan.vn
Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook
Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.