Sầu riêng Việt Nam trước yêu cầu nâng chất lượng tăng trưởng

Sầu riêng Việt Nam trước yêu cầu nâng chất lượng tăng trưởng
Ông Nguyễn Văn Mười, Chủ tịch Câu lạc bộ Doanh nghiệp Nông nghiệp nhiệt đới đã có cuộc trao đổi với phóng viên Báo Công Thương xung quanh vấn đề này.
Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở khâu sản xuất
- Thưa ông, sau hơn 3 năm xuất khẩu sầu riêng sang Trung Quốc theo Nghị định thư, ngành hàng này đã tăng trưởng rất nhanh. Theo ông, đâu là những điểm nghẽn cần tháo gỡ để sầu riêng phát triển bền vững?
Ông Nguyễn Văn Mười: Sau khi Việt Nam ký Nghị định thư về xuất khẩu sầu riêng với Trung Quốc, ngành hàng này có tốc độ tăng trưởng rất mạnh. Nếu trước năm 2022, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng chỉ khoảng 180 triệu USD thì đến năm 2025 đã đạt khoảng 3,8 tỷ USD. 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu tiếp tục tăng khoảng 36%.
Những con số này cho thấy sức phát triển rất lớn của ngành hàng. Tuy nhiên, điều chúng ta cần quan tâm không phải là sản lượng có dư hay thiếu, mà là chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng.
Sầu riêng đang đối mặt với nhiều vấn đề, từ chất lượng sản phẩm, quy trình sản xuất đến thủ tục hành chính, mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Nghị quyết số 36 của Chính phủ vừa qua đã tháo gỡ một phần điểm nghẽn về thủ tục, trong đó có việc quản lý, cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Đây là tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay vẫn nằm ở khâu sản xuất.
- Ông có thể phân tích rõ hơn về điểm nghẽn trong sản xuất?
Ông Nguyễn Văn Mười: Chúng ta không thể kỳ vọng tất cả nông dân đều sản xuất với chất lượng đồng nhất. Mỗi người có trình độ, kinh nghiệm và mức độ am hiểu kỹ thuật khác nhau. Vì vậy, nếu không có một quy trình sản xuất thống nhất và được tuân thủ, rất khó kiểm soát chất lượng sầu riêng.
Điều quan trọng hiện nay là phải giúp người nông dân xây dựng và tuân thủ quy trình sản xuất chuẩn. Tối thiểu phải hướng tới các tiêu chuẩn như VietGAP, chưa nói đến những tiêu chuẩn cao hơn của các thị trường quốc tế. Từ đó mới đặt ra câu chuyện truy xuất nguồn gốc. Truy xuất không chỉ để biết sản phẩm đến từ vùng trồng nào, mà mục tiêu cuối cùng phải là kiểm soát được quá trình sản xuất và chất lượng sản phẩm.
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã triển khai các quy định về truy xuất nguồn gốc. Theo ông, cần đẩy nhanh vấn đề này như thế nào?
Ông Nguyễn Văn Mười: Truy xuất nguồn gốc bằng công nghệ là xu hướng tất yếu. Tuy nhiên, để truy xuất có ý nghĩa thì trước hết phải có một quy trình sản xuất được chuẩn hóa. Quy định về truy xuất nguồn gốc đã được đặt ra từ năm 2018. Đến nay đã khoảng 8 năm, nhưng quá trình hoàn thiện và triển khai vẫn còn một lộ trình tương đối dài. Trong khi đó, yêu cầu của thị trường về chất lượng diễn ra hằng ngày.
Tôi đi nhiều vùng trồng và nhận thấy một thực tế là người sản xuất vẫn chưa thực sự chủ động trong việc truy xuất nguồn gốc. Muốn truy xuất được, trước hết người nông dân phải có quy trình sản xuất; quy trình đó phải phản ánh được chất lượng của sản phẩm. Nếu chỉ truy xuất để biết sản phẩm được sản xuất ở đâu, ai sản xuất mà không kiểm soát được quá trình sản xuất thì giá trị của truy xuất sẽ hạn chế.
- Nghị quyết số 36 đã phân cấp việc cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói cho địa phương. Ông đánh giá thế nào về vai trò của chính quyền địa phương trong giai đoạn tới?
**Ông Nguyễn Văn Mười: **Việc phân cấp là cần thiết và về cơ bản đáp ứng yêu cầu của người sản xuất, doanh nghiệp. Tuy nhiên, không thể chỉ chuyển trách nhiệm từ cấp này sang cấp khác là mọi việc sẽ tự động được giải quyết.
Công tác cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói liên quan trực tiếp đến chuyên môn, kinh nghiệm và năng lực quản lý. Vì vậy, địa phương cần được đào tạo, tập huấn và có đủ nhân lực để thực hiện tốt nhiệm vụ. Tôi cho rằng khi các địa phương quyết tâm triển khai, thủ tục hành chính sẽ từng bước được tháo gỡ và điểm nghẽn về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói sẽ được giải quyết tốt hơn.
- Một vấn đề từng được đề cập là tình trạng mua bán, cho thuê mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Theo ông, cần làm gì để ngăn chặn tình trạng này?
- Ông Nguyễn Văn Mười:* Câu chuyện mua bán, thuê mã số vùng trồng chủ yếu xuất hiện trong bối cảnh mã số còn thiếu. Khi một thứ khan hiếm, người ta sẽ tìm cách tiếp cận bằng nhiều phương thức khác nhau. Nhưng khi việc cấp mã số được tháo gỡ, nguồn cung mã số đáp ứng nhu cầu thì nhu cầu thuê, mượn cũng sẽ giảm.
Nghị quyết số 36 đã đưa ra những quy định và thời hạn cụ thể. Chẳng hạn, đối với mã số vùng trồng phục vụ tiêu thụ trong nước, thời gian giải quyết được rút ngắn; đối với mã số phục vụ xuất khẩu cũng có thời hạn rõ ràng. Khi thủ tục minh bạch, nhanh chóng và thuận lợi hơn, việc phải đi thuê hoặc mượn mã số sẽ không còn nhiều ý nghĩa. Tất nhiên, cùng với phân cấp phải tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm. Mã số phải gắn với đúng vùng trồng, cơ sở sản xuất và trách nhiệm của chủ thể được cấp.
Không thể kỳ vọng thị trường mới thay thế Trung Quốc
Nhìn rộng hơn, sầu riêng hiện là một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của rau quả Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng cao cũng đặt ra rủi ro khi xuất khẩu phụ thuộc lớn vào một thị trường. Ông nhìn nhận vấn đề này thế nào?
- Ông Nguyễn Văn Mười: *Đúng là phụ thuộc vào một thị trường luôn tiềm ẩn rủi ro. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải nhìn nhận Trung Quốc là một thị trường lớn, có lợi thế về khoảng cách địa lý. Đối với rau quả, yếu tố khoảng cách rất quan trọng bởi sản phẩm liên quan trực tiếp đến thời gian bảo quản và chất lượng sau thu hoạch. Vì vậy, Trung Quốc vẫn sẽ là thị trường rất quan trọng đối với rau quả Việt Nam.
Hiện Trung Quốc chiếm khoảng 64-65% kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam. Trong khi đó, Mỹ khoảng 8%, Hàn Quốc khoảng 4-5%, các thị trường Nhật Bản, Australia... cũng có tỷ trọng nhất định. Vì vậy, rất khó tìm một thị trường có thể thay thế ngay Trung Quốc. Vấn đề là chúng ta phải đa dạng hóa thị trường nhưng không kỳ vọng thị trường mới sẽ nhanh chóng tạo ra quy mô như Trung Quốc.
- Ấn Độ đang được kỳ vọng là thị trường tiềm năng mới cho sầu riêng. Theo ông, đâu là cơ hội và giới hạn của thị trường này?
- Ông Nguyễn Văn Mười:* Ấn Độ là thị trường rất lớn về dân số và có tiềm năng tiêu dùng. Việc mở cửa thêm một thị trường luôn tạo cơ hội cho ngành hàng. Tuy nhiên, thị hiếu của người tiêu dùng Ấn Độ khác Trung Quốc. Thái Lan cũng đã tiếp cận thị trường này nhưng chưa đạt được kết quả như kỳ vọng. Vì vậy, chúng ta không nên đặt mục tiêu quá lớn ngay từ đầu.
Nếu trong một năm có thể xuất khẩu sang Ấn Độ vài chục triệu USD thì theo tôi đã là một kết quả tích cực. Sau đó, doanh nghiệp cần từng bước nghiên cứu thị trường, xây dựng hệ thống phân phối và điều chỉnh sản phẩm phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng.
- Ngoài sầu riêng, ngành rau quả cần phát triển những ngành hàng nào để giảm rủi ro và tạo nền tảng tăng trưởng bền vững?
- Ông Nguyễn Văn Mười: *Việt Nam hiện đã mở cửa khoảng 70 thị trường và xuất khẩu rau quả tới hơn 100 thị trường. Tuy nhiên, số thị trường thực sự có kim ngạch lớn vẫn chưa nhiều. Những thị trường đạt kim ngạch trên 20 triệu USD chỉ khoảng hơn 20 thị trường. Như vậy, về cơ bản chúng ta đã tiếp cận được nhiều thị trường lớn trên thế giới. Thời gian tới cần tiếp tục mở cửa các thị trường mới, đồng thời nâng giá trị tại những thị trường đã có.
Cần xác định rõ rằng rất khó có thêm một thị trường nào tạo ra mức tăng trưởng đột biến tương tự Trung Quốc. Vì vậy, hướng đi phù hợp là phát triển nhiều ngành hàng, nhiều thị trường và nâng chất lượng thay vì chỉ chạy theo sản lượng.
- Vậy theo ông, ưu tiên lớn nhất của ngành sầu riêng trong thời gian tới là gì?
- Ông Nguyễn Văn Mười: *Tôi cho rằng cần chuyển trọng tâm từ tăng trưởng bằng sản lượng sang tăng trưởng bằng chất lượng và hiệu quả. Thủ tục hành chính, mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đang từng bước được tháo gỡ. Nhưng nếu khâu sản xuất không được chuẩn hóa thì những giải pháp đó chưa thể tạo ra nền tảng bền vững.
Do đó, cần tập trung xây dựng quy trình sản xuất đồng nhất, nâng cao năng lực của người nông dân, đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc thực chất và tăng trách nhiệm của các chủ thể trong chuỗi. Khi chất lượng được kiểm soát từ vùng trồng, doanh nghiệp có thể yên tâm hơn về nguồn nguyên liệu, thị trường có niềm tin hơn và sầu riêng Việt Nam mới có thể duy trì tốc độ tăng trưởng trong dài hạn.
Xin cảm ơn ông!
Ông Nguyễn Văn Mười, Chủ tịch Câu lạc bộ Doanh nghiệp Nông nghiệp nhiệt đới, cho rằng sầu riêng đang là một trong những ngành hàng có tốc độ tăng trưởng ấn tượng nhất. Tăng trưởng nóng tất yếu bộc lộ những điểm nghẽn, song vấn đề hiện nay chủ yếu nằm ở khâu tổ chức thực hiện, không hẳn do thiếu quy định pháp luật. Đơn cử, việc đăng ký mã số vùng trồng vốn không quá phức tạp nhưng quá trình triển khai thực tế lại phát sinh nhiều thủ tục. Bên cạnh đó, chất lượng nông sản là vấn đề cần được ưu tiên. Ngành hàng cần xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm chính, có số liệu đánh giá thực trạng, kế hoạch giảm rủi ro và lộ trình nâng chất lượng. Để giải quyết các điểm nghẽn, phải phân công đúng người, đúng việ c, đúng nhiệm vụ. Khi phân công đúng thì mọi thứ sẽ được giải quyết.