🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Kỹ thuật canh tác

Số hóa vườn cây đưa trái Việt đi xa

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
Số hóa vườn cây đưa trái Việt đi xa

Từ tưới thông minh, nhật ký điện tử đến mã QR, mã số vùng trồng, nông dân Vĩnh Long đang đưa công nghệ vào vườn cây, nâng chất lượng nông sản mở đường xuất khẩu.

Mỗi cây bưởi có một ‘hồ sơ số’

Trên những vùng cây ăn trái ven sông Tiền, sông Hậu, nông dân Vĩnh Long đang dần thay đổi cách làm vườn.Các nhà vườn bắt đầu làm quen với cách nhập dữ liệu, làm theo quy trình và đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường. Hệ thống tưới tiết kiệm, quy trình VietGAP, GlobalGAP, nhật ký sản xuất điện tử, mã QR truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng… đang từng bước xuất hiện trong các vườn cây ăn trái.

Gia đình ông Trịnh Ngọc Trung, nông dân xã Giao Long có hơn 1 ha chuyên canh khoảng 3.700 gốc bưởi da xanh, sản lượng đạt hơn 20 tấn mỗi năm. Trước đây, việc chăm sóc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, nhưng sau những lần tham gia tập huấn kỹ thuật, ông bắt đầu thay đổi cách làm, tổ chức lại vườn và ứng dụng khoa học kỹ thuật (KHKT) sản xuất theo quy trình.

Sự thay đổi ấy thể hiện ngay trên từng cây bưởi, mỗi cây được gắn bảng thông tin và mã QR, giống như có một “hồ sơ số” riêng. “Trước đây mình làm vườn chủ yếu nhớ trong đầu hoặc ghi chép bằng sổ. Còn bây giờ có mã QR, từng cây có thông tin để theo dõi từ chăm sóc, bón phân, xử lý sâu bệnh đến ra hoa, đậu trái và thu hoạch. Khi cần xem lại cũng dễ hơn rất nhiều”, ông Trung chia sẻ.

Dẫn chúng tôi tham quan thực tế vườn bưởi, ông Trung khẳng định: “Khi áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào vườn cây, chất lượng và mẫu mã trái bưởi được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ sản phẩm đáp ứng yêu cầu của đơn vị thu mua đạt khoảng 90%. Đặc biệt tư duy sản xuất cũng thay đổi, để làm ra trái bưởi ngon, nhà vườn phải nắm bắt được thị trường cần gì và yêu cầu sản xuất ra sao”.

Theo ông Trung, công nghệ không thay thế kinh nghiệm mà hai yếu tố bổ trợ cho nhau. Kinh nghiệm giúp hiểu cây, còn công nghệ giúp quản lý kỹ hơn. Từ một mã QR nhỏ treo trên thân cây, chủ vườn có thể biết cây nào sinh trưởng yếu, cây nào có dấu hiệu sâu bệnh hoặc đã được xử lý kỹ thuật ở thời điểm nào để chăm sóc phù hợp, thay vì áp dụng đồng loạt cho cả vườn cây. Người mua có thể biết sản phẩm đến từ vùng nào, được canh tác theo quy trình gì, vật tư đầu vào được quản lý ra sao. Còn người trồng phải có trách nhiệm hơn với từng công đoạn của mình.

Phía sau một mã số vùng trồng

Khi những dữ liệu riêng lẻ của từng cây, từng hộ dân được chuẩn hóa và liên kết, mã QR không còn chỉ là công cụ để tra cứu mà trở thành một phần trong phương thức quản trị vùng nguyên liệu, quá trình sản xuất được theo dõi từ đầu vào đến thu hoạch.

Hiện nay tỉnh Vĩnh Long có khoảng 18.000 ha bưởi, trong đó hơn 13.800 ha bưởi da xanh ruột hồng; trên 10.000 ha đang cho trái, với năng suất khoảng 12 - 15 tấn/ha. Toàn tỉnh có 233 mã số vùng trồng bưởi xuất khẩu, tổng diện tích hơn 1.224 ha.

Theo ông Lâm Văn Tân, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long, nếu cuối năm 2025 toàn tỉnh mới có khoảng 4.500 - 5.000 ha cây ăn trái chủ lực tiếp cận các giải pháp như tưới tiết kiệm, mã QR và quy trình VietGAP, GlobalGAP, thì nay chuẩn hóa quy trình và số hóa sản xuất đang trở thành yêu cầu ngày càng rõ của các chuỗi liên kết xuất khẩu.

Điều này cũng làm thay đổi cách chuyển giao KHKT, thay vì chỉ hướng dẫn nhà vườn bón phân, tưới nước hay phòng trừ sâu bệnh, yêu cầu của thị trường đang được thông tin cụ thể đến vườn cây về dư lượng thuốc BVTV phải ở mức nào, đối tượng kiểm dịch nào cần kiểm soát, giống cây phải ra sao, xử lý ra hoa thế nào và trái cần đạt tiêu chuẩn gì về chất lượng, kích cỡ, mẫu mã.

Ở góc độ nghiên cứu, ông Ngô Xuân Chinh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao Tiến bộ Kỹ thuật Nông nghiệp thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam cho rằng, mục tiêu cuối cùng của ứng dụng KHCN vẫn là giúp nông dân tạo ra sản phẩm đạt chuẩn, có giá trị cao hơn và đủ sức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế. “Với cây bưởi, bà con phải đặc biệt chú ý chất lượng, kiểm soát dịch hại và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Ngay từ đầu phải chọn đúng giống, hạn chế lẫn tạp. Từ bón phân, xử lý ra hoa đến quản lý sâu bệnh đều phải gắn với yêu cầu của thị trường nhập khẩu”, ông Chinh lưu ý.

Khoa học công nghệ đi cùng chuỗi liên kết

Để KHCN tạo ra thay đổi trên quy mô lớn, điều cần nhân rộng không chỉ là một hệ thống tưới, một mã QR hay một phần mềm quản lý. Quan trọng hơn là hình thành những mô hình tổ chức sản xuất phù hợp với điều kiện sinh thái và thế mạnh của từng địa phương.

Ông Nguyễn Đình Mười, Phó Tổng Giám đốc Vina T&T Group cho rằng, ứng dụng công nghệ không nhất thiết phải bắt đầu bằng những thiết bị đắt tiền. Với nhà vườn, chuyển đổi số có thể bắt đầu từ những việc rất cụ thể, ghi đúng nhật ký sản xuất, kiểm soát vật tư đầu vào, lưu dữ liệu vườn cây và truy xuất được từng lô sản phẩm.

Theo ông Mười, chuyển giao công nghệ cũng không thể dừng ở một vài lớp tập huấn. Người dân cần được hướng dẫn thường xuyên, có thời gian áp dụng, kiểm chứng ngay trên vườn của mình để từng bước thay đổi tập quán canh tác. Khi nhìn thấy hiệu quả bằng chính năng suất, chất lượng và đầu ra sản phẩm, công nghệ mới thực sự trở thành nhu cầu của người sản xuất.

Khi nông dân cùng tham gia tổ hợp tác, HTX, những khu vườn nhỏ có thể liên kết thành vùng nguyên liệu đủ lớn; quy trình sản xuất được thống nhất, dữ liệu được quản lý đồng bộ và doanh nghiệp thuận lợi hơn khi xây dựng chuỗi thu mua, chế biến, xuất khẩu.

Với cây bưởi da xanh ở Vĩnh Long, con đường đi xa bắt đầu từ những thay đổi rất gần: Một lần ghi nhật ký đúng hơn, một lần sử dụng vật tư chính xác hơn, một mã QR trên thân cây hay một vùng trồng được quản lý theo tiêu chuẩn. KHCN chỉ thực sự có ý nghĩa khi người nông dân có thể sử dụng nó một cách đơn giản, nhìn thấy hiệu quả trên chính khu vườn của mình và quan trọng nhất, bán được nông sản với chất lượng, giá trị và thị trường tốt hơn.

"Chuyển đổi số trong nông nghiệp có thể bắt đầu từ những việc rất gần gũi, như tưới tiết kiệm, nhật ký điện tử, mã QR, mã số vùng trồng hay dữ liệu sâu bệnh ngay trên điện thoại. Khi công nghệ gắn với hợp tác xã, doanh nghiệp và thị trường, người nông dân không chỉ làm ra nguyên liệu mà trở thành một mắt xích chủ động trong chuỗi giá trị, tạo nền tảng cho nông nghiệp thông minh và kinh tế nông thôn hiện đại" ông Ngô Xuân Chinh nhấn mạnh.