Thị trường nông sản 13/7: Lúa gạo xuất khẩu giữ giá, heo hơi phân cực Bắc - Nam
Thị trường nông sản 13/7: Lúa gạo xuất khẩu giữ giá, heo hơi phân cực Bắc - Nam
Thị trường nông sản 13/7: Lúa gạo xuất khẩu giữ giá, heo hơi phân cực Bắc - Nam
Thị trường nông sản sáng 13/7 ghi nhận mặt hàng hồ tiêu xuất khẩu và sầu riêng có nhịp điều chỉnh giảm, đan xen cùng đà neo giá vững chắc của lúa gạo và heo hơi.
Cà phê duy trì nền giá cao, quốc tế tăng vọt
Thị trường nông sản ghi nhận giá cà phê trong nước sáng nay ở trạng thái đi ngang tại các vùng trồng trọng điểm.
Theo giacaphe.com, giá thu mua dao động trong khoảng 94.700 đến 95.300 đồng/kg, với mức giá trung bình phổ biến quanh mốc 95.200 đồng/kg.
Cụ thể, Lâm Đồng (cũ) tiếp tục là địa phương có mức giá thấp nhất khu vực khi niêm yết ở mức 94.700 đồng/kg.
Tại Đắk Lắk và Gia Lai, cà phê được thu mua chung mức 95.200 đồng/kg. Khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) vẫn giữ đỉnh bảng với 95.300 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, sàn giao dịch London, giá cà phê robusta hợp đồng giao tháng 9/2026 giảm 4,72%, tương đương 191 USD/tấn, hiện giao dịch ở mức 3.852 USD/tấn. Kỳ hạn giao tháng 11/2026 cũng giảm 4,57%, đạt 3.819 USD/tấn.
Sàn New York cũng ghi nhận đà giảm khi cà phê arabica kỳ hạn tháng 9/2026 giảm 3,92%, hiện giao dịch ở mức 334,25 US cent/pound.
Hồ tiêu nội địa chững lại
Cập nhật từ giatieu.com cho thấy, mặt bằng giá hiện vẫn neo ở mức cao, dao động từ 138.000 đến 141.000 đồng/kg.
Khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) dẫn đầu về giá với 141.000 đồng/kg. Tiếp theo là Đắk Lắk ở mức 140.000 đồng/kg. Các tỉnh Gia Lai và Đồng Nai cùng ghi nhận mức giá 138.000 đồng/kg.
Trên bình diện xuất khẩu, Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế cho biết giá tiêu đen của Việt Nam đã giảm khoảng 4%, tương đương 250 USD/tấn. Lùi về vùng 5.850 đến 5.950 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 550 g/l.
Đáng chú ý, tiêu trắng xuất khẩu bốc hơi tới 800 USD/tấn, lao dốc gần 9% xuống mức 8.200 USD/tấn chỉ sau một tuần.
Tại các quốc gia khác, tiêu đen Indonesia giảm 55 USD/tấn xuống 7.079 USD/tấn, trong khi thị trường Brazil và Malaysia vẫn duy trì sự ổn định.
Thị trường nông sản ghi nhận giá lúa gạo phân hóa
Theo khảo sát tại một số nguồn, tại khu vực ĐBSCL, lúa tươi giao dịch khá chậm nhưng giá gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu lại vững vàng ở vùng cao.
Cụ thể, với lúa tươi, giống Đài Thơm 8 giữ giá tốt nhất từ 6.450 đến 6.600 đồng/kg, OM 18 theo sát ở mức 6.300 đến 6.500 đồng/kg. Các giống IR 50404, OM 5451 và OM 34 dao động quanh mốc 5.600 đến 5.800 đồng/kg.
Về mặt hàng gạo nguyên liệu, gạo OM 5451 vươn lên nhóm dẫn đầu với mức 9.500 đến 9.600 đồng/kg. Gạo CL 555 đạt 9.400 đến 9.500 đồng/kg. Gạo thành phẩm IR 504 hiện giao dịch ở mức 10.750 đến 10.900 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam duy trì lợi thế cạnh tranh với gạo Jasmine chào bán từ 513 đến 517 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm đạt 510 đến 520 USD/tấn, neo giá vững chắc hơn hẳn so với nguồn cung từ Thái Lan và Ấn Độ.
Sầu riêng điều chỉnh giá, phân khúc đa dạng
Khảo sát tại một số khu thu mua và giasaurieng.net cho thấy, thị trường sầu riêng tại các kho ghi nhận nhịp điều chỉnh giảm từ 1.000 đến 3.000 đồng/kg đối với dòng sầu Thái loại A.
Cụ thể, tại ĐBSCL, sầu Thái loại A có giá 59.000 đến 60.000 đồng/kg, hàng loại B ở mức 39.000 đến 40.000 đồng/kg.
Dòng sầu Ri6 loại A duy trì mốc 37.000 đồng/kg, trong khi phân khúc cao cấp Black Thorn loại A vẫn vững vàng ở mức 110.000 đồng/kg.
Tại khu vực Tây Ninh và Đắk Lắk, giá sầu Thái loại A nhỉnh hơn, dao động từ 63.000 đến 67.000 đồng/kg.
Đồng Nai ghi nhận mức giá 61.000 đến 63.000 đồng/kg cho loại A, riêng hàng lỗi rớt xuống vùng 40.000 đến 53.000 đồng/kg.
Heo hơi neo cao, phân cực Bắc Nam
Thị trường heo hơi sáng nay vẫn dao động trong khoảng 61.000 đến 66.000 đồng/kg với sự phân hóa vùng miền rõ rệt.
Miền Bắc tiếp tục khẳng định vị thế dẫn dắt khi nhiều tỉnh thành như Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nội cùng neo ở mức đỉnh 66.000 đồng/kg. Biên độ chênh lệch toàn vùng rất hẹp chỉ khoảng 1.000 đồng/kg.
Tại miền Trung, giá trải rộng từ 61.000 đến 65.000 đồng/kg với Thanh Hóa và Nghệ An dẫn đầu.
Trái lại, thị trường miền Nam tỏ ra trầm lắng hơn khi giá chỉ dao động quanh mốc 61.000 đến 63.000 đồng/kg. Đồng Nai và TP.HCM là hai điểm sáng hiếm hoi đạt 63.000 đồng/kg. Đồng Tháp, An Giang và Cà Mau rơi vào nhóm có mức giá thu mua thấp nhất cả nước.
Cao su nội địa bình ổn, quốc tế đan xen các thái cực
Các doanh nghiệp trong nước tiếp tục giữ nhịp thu mua mủ cao su nguyên liệu ổn định.
Cụ thể, Công ty Phú Riềng chốt giá mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC và mủ nước là 420 đồng/TSC.
Công ty Mang Yang thu mua mủ nước loại 1 chạm mốc 463 đồng/TSC.
Công ty Bình Long và Bà Rịa cũng duy trì chính sách giá không đổi so với kỳ trước nhằm hỗ trợ nguồn cung nội địa.
Trên thế giới, giá cao su ghi nhận biến động trái chiều.
Sàn Osaka Nhật Bản giữ đà tăng nhẹ với kỳ hạn tháng 8 đạt 415,5 Yên/kg.
Tại Thái Lan, giá cao su RSS3 nhích lên 91,3 Baht/kg nhờ lực mua nội địa tốt.
Sàn Thượng Hải chứng kiến sự giằng co khi kỳ hạn tháng 8 giảm 130 Nhân dân tệ xuống 16.795 Nhân dân tệ/tấn, nhưng hợp đồng butadiene lại tăng vọt 1,97%.