Thị trường nông sản 13/8: Cà phê nội địa mất đà tăng, gạo xuất khẩu khởi sắc
Thị trường nông sản 13/8: Cà phê nội địa mất đà tăng, gạo xuất khẩu khởi sắc
Thị trường nông sản 13/8: Cà phê nội địa mất đà tăng, gạo xuất khẩu khởi sắc
Thị trường nông sản sáng 13/8 ghi nhận sự phân hóa mạnh mẽ. Trong khi giá gạo xuất khẩu khởi sắc, giá cà phê nội địa lại chịu áp lực điều chỉnh giảm theo đà suy yếu của dòng Robusta trên thế giới.
Cà phê quay đầu giảm giá theo nhịp điệu quốc tế
Thị trường nông sản sáng nay ghi nhận, giá cà phê trong nước không giữ được đà tăng. Các vùng sản xuất trọng điểm đồng loạt điều chỉnh giảm phổ biến từ 400 đến 500 đồng/kg, đưa mặt bằng thu mua về mức 96.800 đến 97.500 đồng/kg.
Theo giacaphe.com, khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) hiện là nơi duy trì mức giá cao nhất cả nước với 97.500 đồng/kg dù đã giảm 500 đồng/kg.
Đắk Lắk và Gia Lai, cà phê cùng được giao dịch quanh mốc 97.300 đồng/kg sau khi giảm 400 đồng/kg.
Riêng khu vực Lâm Đồng cũ hiện ghi nhận mức giá thấp nhất với mốc 96.800 đồng/kg.
Nguyên nhân của nhịp điệu hạ nhiệt này đến từ áp lực giảm của cà phê Robusta trên sàn London.
Cụ thể, hợp đồng giao tháng 9 đã giảm 24 USD/tấn xuống còn 3.782 USD/tấn. Kỳ hạn tháng 11 giảm 18 USD/tấn xuống 3.777 USD/tấn.
Ngược lại, Arabica trên sàn New York duy trì sức hút rất tốt. Hợp đồng Arabica tháng 9 đạt 335,75 US cent/lb sau khi tăng 3,45 US cent/lb, và tiếp tục vọt thêm 4,35 US cent/lb trong phiên giao dịch mới nhất.
Hồ tiêu duy trì mặt bằng giá ổn định
Thị trường hồ tiêu nội địa chững lại sau nhịp giảm nhẹ của phiên trước, với mức thu mua phổ biến neo từ 136.000 đến 139.000 đồng/kg.
Cập nhật từ giatieu.com sáng nay cho thấy, khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) tiếp tục là thủ phủ có mức giá cao nhất cả nước đạt 139.000 đồng/kg. Đắk Lắk hiện được thu mua với mức 138.000 đồng/kg.
Gia Lai, Đồng Nai và khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM) cùng giao dịch ổn định ở mức 136.000 đồng/kg.
Trên bình diện quốc tế, dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế ghi nhận giá tiêu đen và tiêu trắng của Indonesia cùng giảm nhẹ 0,16%, lần lượt lùi về 6.856 USD/tấn và 9.387 USD/tấn.
Trong khi đó, biểu giá xuất khẩu của Brazil, Malaysia và Việt Nam hoàn toàn không có sự thay đổi.
Thị trường nông sản ghi nhận lúa gạo khởi sắc trên bình diện xuất khẩu
Khảo sát từ một số nguồn và luagaoviet.com sáng nay cho thấy, tại ĐBSCL, thị trường lúa gạo bước vào phiên giao dịch với trạng thái cân bằng.
Cụ thể, lúa IR 50404 tiếp tục bám trụ vùng 6.300 đến 6.400 đồng/kg. Lúa OM 5451 dao động vững chắc từ 6.700 đến 6.800 đồng/kg.
Nhóm lúa chất lượng cao như Đài Thơm 8 và OM 18 duy trì vùng giá tốt từ 6.900 đến 7.000 đồng/kg.
Ở phân khúc gạo nguyên liệu, dòng IR 504 vươn lên thành tâm điểm khi tăng 100 đồng/kg, chạm ngưỡng 9.800 đến 9.850 đồng/kg. Dòng CL 555 tiếp tục neo quanh 9.750 đến 9.850 đồng/kg.
Điểm sáng lớn nhất đến từ thị trường xuất khẩu khi gạo trắng 5% tấm của Việt Nam nhích nhẹ lên 438 đến 442 USD/tấn.
Gạo Jasmine chào bán ở mức 538 đến 542 USD/tấn và gạo thơm 5% tấm đạt 490 đến 500 USD/tấn.
Mức giá này tiếp tục giữ lợi thế so với gạo trắng 5% tấm của Thái Lan đang ở mức 450 đến 454 USD/tấn. Gạo Pakistan đạt 401 đến 405 USD/tấn và Ấn Độ chốt ở 360 đến 364 USD/tấn.
Sầu riêng phân hóa sâu sắc theo chất lượng từng vùng
Thị trường sầu riêng sáng nay tiếp tục phản ánh rõ nét quy luật phân hóa giá cả theo chất lượng và khu vực.
Cập nhật từ giasaurieng.net và một số kho thu mua cho thấy, tại Đắk Lắk, sầu riêng Thái loại đẹp dẫn đầu với mức thu mua từ 83.000 đến 85.000 đồng/kg, loại B ở mức 65.000 đồng/kg. Sầu Thái xô loại A đạt 78.000 đến 80.000 đồng/kg, loại B từ 52.000 đến 56.000 đồng/kg.
Sầu Ri6 tại đây đạt 35.000 đến 38.000 đồng/kg cho loại A và 20.000 đến 23.000 đồng/kg cho loại B. Dòng cao cấp Musang King loại A niêm yết từ 65.000 đến 70.000 đồng/kg.
Khu vực Gia Lai ghi nhận sầu Thái loại A từ 72.000 đến 79.000 đồng/kg, hàng lỗi dao động 55.000 đến 65.000 đồng/kg, sầu Ri6 loại A neo ở 35.000 đồng/kg.
Tại Đồng Nai, sầu Thái loại A có giá 65.000 đến 67.000 đồng/kg, hàng xô AB từ 40.000 đến 42.000 đồng/kg. Ri6 loại A đạt 37.000 đến 40.000 đồng/kg. Giống Musang King loại A giao dịch từ 65.000 đến 70.000 đồng/kg, loại B từ 40.000 đến 55.000 đồng/kg.
Tại ĐBSCL, sầu Thái loại A dao động từ 65.000 đến 75.000 đồng/kg, loại B từ 45.000 đến 55.000 đồng/kg. Sầu Ri6 loại A giao dịch từ 35.000 đến 40.000 đồng/kg, loại B từ 20.000 đến 30.000 đồng/kg.
Heo hơi mất mốc 60.000 đồng/kg
Bức tranh ngành chăn nuôi heo tiếp tục phủ gam màu ảm đạm khi giá heo hơi giảm tại cả ba miền, kéo mặt bằng chung xuống vùng 57.000 đến 59.000 đồng/kg.
Sau chuỗi ngày giảm liên tiếp, toàn bộ thị trường đã chính thức mất mốc 60.000 đồng/kg.
Cụ thể, tại miền Bắc, Quảng Ninh, Hà Nội và Hưng Yên cùng giảm 1.000 đồng/kg xuống 59.000 đồng/kg. Cao Bằng, Lào Cai và Sơn La hiện thu mua thấp nhất ở mức 57.000 đồng/kg.
Tại miền Trung và Tây Nguyên, hầu hết các tỉnh đều rớt 1.000 đồng/kg. Hà Tĩnh, Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Khánh Hòa và Lâm Đồng giao dịch ở 58.000 đồng/kg. Thanh Hóa, Nghệ An, Huế và Đắk Lắk chạm đáy khu vực với 57.000 đồng/kg.
Còn tại miền Nam, TP.HCM và Cà Mau cùng hạ 1.000 đồng/kg, lần lượt về 58.000 đồng/kg và 57.000 đồng/kg. Đồng Nai trở thành pháo đài duy nhất còn giữ được mức 59.000 đồng/kg. Thấp nhất là An Giang và Cà Mau ở mức 57.000 đồng/kg.
Giá cao su nội địa đi ngang, quốc tế phân hóa đan xen
Thị trường cao su nguyên liệu trong nước khép lại ngày giao dịch với sự ổn định từ các tập đoàn lớn.
Công ty Cao su Mang Yang thu mua mủ nước loại 1 ở mức 463 đồng/TSC/kg, loại 2 là 458 đồng/TSC/kg. Mủ đông tạp loại 1 đạt 459 đồng/kg, loại 2 ở mức 404 đồng/kg.
Công ty Cao su Bà Rịa công bố giá mủ nước mức 1 cho độ TSC từ 30 trở lên là 452 đồng/độ TSC/kg, mức 2 cho độ TSC từ 25 đến dưới 30 là 447 đồng/độ TSC/kg.
Công ty Phú Riềng thu mua mủ nước ở 420 đồng/TSC/kg và mủ tạp là 390 đồng/DRC/kg.
Công ty Bình Long giữ nguyên biểu giá thu mua mủ nước tại nhà máy 540 đồng/độ TSC/kg, tại đội sản xuất 530 đồng/độ TSC/kg.
Trên thị trường quốc tế, sàn TOCOM tại Nhật Bản chứng kiến đà tăng ở kỳ hạn tháng 8 lên 455,50 JPY/kg. Tháng 9 tăng mạnh 3,37% lên 447,50 JPY/kg. Tháng 10 tăng lên 439,80 JPY/kg và tháng 12 lên 425 JPY/kg.
Tại sàn Thượng Hải, hợp đồng tháng 8 tăng nhẹ lên 16.990 CNY/tấn, trong khi các kỳ hạn tháng 9, tháng 10, tháng 11 và tháng 1 năm sau đều đồng loạt suy giảm dao động từ 16.950 đến 17.880 CNY/tấn.
Sàn Singapore ghi nhận toàn bộ các kỳ hạn từ tháng 9 năm nay đến tháng 1 năm sau đều nhích nhẹ dưới 0,2%, dao động trong khoảng 219,10 đến 221 Cent/kg.