Vĩnh Long đề xuất thí điểm Hệ sinh thái tài chính cho xuất khẩu nông sản bền vững - Tạp chí Kinh tế

Vĩnh Long đề xuất thí điểm Hệ sinh thái tài chính cho xuất khẩu nông sản bền vững
Vĩnh Long đề xuất thí điểm Hệ sinh thái tài chính cho xuất khẩu nông sản bền vững
| Ông Trần Quốc Tuấn, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Vĩnh Long chia sẻ thông tin tại Hội nghị. Ảnh: Đức Mỹ |
Tháo gỡ 5 điểm nghẽn của xuất khẩu nông sản
Tại Hội nghị truyền thông chính sách với chủ đề **“Vĩnh Long - Chính sách tài chính thúc đẩy xuất khẩu nông sản bền vững” **do UBND tỉnh Vĩnh Long phối hợp với Tạp chí Kinh tế - Tài chính (Bộ Tài chính) tổ chức ngày 31/7, ông Trần Quốc Tuấn, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Vĩnh Long cho biết, sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, tỉnh có không gian phát triển mới với lợi thế kết nối vùng phù sa sông Tiền, sông Hậu và hành lang kinh tế ven biển, tạo nền tảng hình thành chuỗi giá trị nông nghiệp quy mô lớn cho các ngành hàng chủ lực như lúa gạo, dừa, cây ăn trái và thủy sản.
Theo ông Trần Quốc Tuấn, trong 6 tháng đầu năm 2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh Vĩnh Long tạo ra hơn 33.000 tỷ đồng giá trị tăng thêm, tăng 3,4% so với cùng kỳ. Diện tích tham gia Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp đạt hơn 8.200 ha. Kim ngạch xuất khẩu nông, thủy sản đạt gần 234 triệu USD, tăng 16,18%; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1,92 tỷ USD, tăng 6,35%. Hiện nông sản Vĩnh Long đã có mặt tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Tuy nhiên, tăng trưởng chưa đồng nghĩa với năng lực cạnh tranh bền vững khi giá trị gia tăng còn thấp, liên kết vùng nguyên liệu chưa chặt chẽ, năng lực bảo quản, chế biến sâu và logistics chưa đáp ứng yêu cầu, trong khi phần lớn rủi ro vẫn tập trung vào người nông dân và doanh nghiệp nhỏ.
Phân tích các điểm nghẽn cần tháo gỡ, ông Trần Quốc Tuấn cho rằng, trước hết là bài toán vốn. Doanh nghiệp cần nguồn vốn trung và dài hạn để đầu tư vùng nguyên liệu, kho lạnh, dây chuyền chế biến, nhưng chủ yếu chỉ tiếp cận được các khoản vay ngắn hạn với yêu cầu tài sản bảo đảm cao. Nhiều hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ có hợp đồng tiêu thụ và dòng tiền nhưng vẫn khó vay vốn do thiếu tài sản thế chấp.
Điểm nghẽn tiếp theo là chuỗi giá trị nông sản còn thiếu liên kết về tài chính. Chính sách hỗ trợ vẫn phân tán theo từng chủ thể hoặc từng khâu, trong khi một lô hàng xuất khẩu cần nguồn lực đồng bộ từ sản xuất, kiểm nghiệm, sơ chế, bảo quản đến vận chuyển và tiêu thụ. Chỉ cần một mắt xích thiếu vốn, cả chuỗi có thể mất cơ hội thị trường.
Bên cạnh đó, hạ tầng logistics chưa theo kịp nhu cầu phát triển khi tỉnh còn thiếu trung tâm logistics chuyên ngành, kho lạnh, kho ngoại quan, trung tâm kiểm định, đóng gói quy mô vùng và kết nối đồng bộ với cảng biển, làm gia tăng chi phí sau thu hoạch và giảm sức cạnh tranh của nông sản.
Theo Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Vĩnh Long, các tiêu chuẩn xanh của thị trường nhập khẩu cũng tạo áp lực lớn đối với doanh nghiệp. Việc xây dựng mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, đạt chứng nhận bền vững, kiểm kê phát thải, chuyển đổi năng lượng hay xử lý phụ phẩm đều cần nguồn vốn lớn. Nếu thiếu tín dụng xanh, bảo lãnh tín dụng và cơ chế chia sẻ rủi ro, các yêu cầu này sẽ trở thành rào cản đối với doanh nghiệp nhỏ.
Ngoài ra, khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn vẫn còn khá lớn khi một số cơ chế khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp chưa có nguồn lực ổn định, thủ tục còn phức tạp.
| Hoạt động chế biến trái cây tại Nhà máy của Tập đoàn AIG. Ảnh: DN |
Đồng bộ chính sách để mở rộng thị trường
Nhận diện rõ những khó khăn, đại diện Sở Công Thương tỉnh Vĩnh Long kiến nghị Trung ương sớm hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính nhằm tạo động lực mới cho xuất khẩu nông sản theo hướng bền vững.
Theo đó, Vĩnh Long đề nghị sớm ban hành nghị định thay thế Nghị định số 57/2018/NĐ-CP theo hướng số hóa, đơn giản hóa thủ tục, thực hiện theo cơ chế “một đầu mối”, đồng thời bố trí nguồn ngân sách Trung ương ổn định theo kế hoạch trung hạn để địa phương chủ động triển khai các dự án hiệu quả.
Đối với tín dụng, tỉnh kiến nghị khẩn trương cụ thể hóa cơ chế hỗ trợ lãi suất 2%/năm theo Nghị quyết số 198/2025/QH15 đối với các chuỗi nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn và đáp ứng tiêu chuẩn ESG (môi trường - xã hội - quản trị). Đồng thời, xây dựng tiêu chí tín dụng xanh đơn giản, mở rộng cho vay dựa trên hợp đồng bao tiêu, dòng tiền, dữ liệu vùng trồng và chứng từ kho hàng, thay vì chủ yếu dựa vào tài sản thế chấp.
Vĩnh Long cũng đề xuất ưu tiên vốn đầu tư công giai đoạn 2026-2030 và đẩy mạnh hợp tác công - tư (PPP) để phát triển hạ tầng logistics nông sản như kho lạnh, trung tâm kiểm định, đóng gói, cảng và kết nối Khu kinh tế Định An. Theo ông Tuấn, ngân sách nhà nước cần đóng vai trò “vốn mồi” nhằm thu hút nguồn lực xã hội đầu tư vào các dự án có sức lan tỏa.
Bên cạnh đó, địa phương kiến nghị hoàn thiện các công cụ thuế và tài chính để khuyến khích chế biến sâu, như rút ngắn thời gian hoàn thuế giá trị gia tăng, nghiên cứu cơ chế khấu hao nhanh, tín dụng thuế và hỗ trợ đầu tư kho lạnh, dây chuyền tiết kiệm năng lượng, xử lý phụ phẩm, truy xuất nguồn gốc số.
Đáng chú ý, Vĩnh Long đề xuất thí điểm “Hệ sinh thái tài chính cho xuất khẩu nông sản bền vững Vĩnh Long giai đoạn 2026-2030”, với ngân sách nhà nước làm vốn mồi, ngân hàng cung cấp tín dụng, quỹ bảo lãnh và bảo hiểm cùng chia sẻ rủi ro, doanh nghiệp dẫn dắt thị trường, hợp tác xã tổ chức sản xuất và nông dân cung cấp vùng nguyên liệu đạt chuẩn. Trước mắt, mô hình sẽ tập trung vào ba chuỗi ngành hàng chủ lực gồm dừa gắn với kinh tế tuần hoàn, lúa gạo chất lượng cao phát thải thấp và thủy sản công nghệ cao kết hợp cây ăn trái.
Việc hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền trong quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính cũng là giải pháp quan trọng, giúp địa phương chủ động hỗ trợ phát triển các chuỗi ngành hàng chủ lực, phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng vùng.