Vĩnh Long tìm lực đẩy cho xuất khẩu nông sản

Vĩnh Long đề xuất tháo gỡ 'điểm nghẽn' vốn, logistics và thể chế, tạo lực đẩy cho doanh nghiệp nâng năng lực cạnh tranh, mở rộng xuất khẩu nông sản.
Ngày 31/7, UBND tỉnh Vĩnh Long phối hợp Tạp chí Kinh tế - Tài chính, Bộ Tài chính tổ chức hội nghị “Vĩnh Long - Chính sách tài chính thúc đẩy xuất khẩu nông sản bền vững”.
Ông Phạm Thu Phong, Tổng Biên tập Tạp chí Kinh tế - Tài chính cho biết, nông nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, chuyển từ mục tiêu tăng sản lượng sang nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và tính bền vững.
Theo số liệu được công bố tại hội nghị, trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam ước đạt 35,88 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu nông sản đạt 18,59 tỷ USD, thủy sản khoảng 5,7 tỷ USD, lâm sản 9,2 tỷ USD; toàn ngành xuất siêu khoảng 9,2 tỷ USD.
Kết quả này tiếp tục khẳng định vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế. Tuy nhiên, các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải và trách nhiệm môi trường.
Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp nông nghiệp vẫn khó tiếp cận vốn trung và dài hạn, hạn chế về công nghệ chế biến, logistics và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.
Tăng trưởng khởi sắc nhưng chưa đạt kỳ vọng
Ông Nguyễn Trúc Sơn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long cho biết, trong bối cảnh kinh tế trong nước và thế giới có nhiều biến động, kết quả đạt được trong 6 tháng đầu năm là nỗ lực lớn của cả hệ thống chính trị, nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 6,41%. Mặc dù tăng trưởng đang chuyển biến tích cực, kết quả này vẫn còn khoảng cách so với kỳ vọng phát triển chung của địa phương.
Để hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2027, đưa Vĩnh Long trở thành tỉnh phát triển khá trong vùng ĐBSCL, tỉnh xác định tháo gỡ khó khăn và phát huy nội lực của cộng đồng doanh nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm.
Vĩnh Long hiện có khoảng 13.000 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó hơn 450 doanh nghiệp kinh doanh, chế biến và xuất khẩu nông sản. Đây là lực lượng quan trọng thúc đẩy kinh tế nông nghiệp, ngành được xác định là một trong những trụ cột của địa phương.
Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp nông nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, năng lực tài chính và sức cạnh tranh còn hạn chế. Trong điều kiện nguồn lực đầu tư công có hạn, việc tháo gỡ những vướng mắc về vốn, hạ tầng và thể chế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Theo ông Nguyễn Trúc Sơn, thời gian qua, tỉnh đã tăng cường phối hợp với các bộ, ngành Trung ương nhằm huy động nguồn lực phục vụ phát triển.
Bộ Tài chính đồng hành với địa phương trong phân bổ nguồn lực Trung ương, xây dựng chính sách tài chính, thuế và hỗ trợ ngân sách. Bộ Công Thương triển khai các chương trình khuyến công, xúc tiến thương mại, hỗ trợ đưa sản phẩm dừa, thủy sản, trái cây và những mặt hàng chủ lực của tỉnh ra thị trường quốc tế.
Theo số liệu nêu tại hội nghị, trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của Vĩnh Long xếp thứ ba trong vùng ĐBSCL và thứ 19 trong cả nước.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng phối hợp triển khai các chương trình, đề án lớn, trong đó có Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp, góp phần nâng cao giá trị chuỗi nông sản chủ lực.
Ông Nguyễn Trúc Sơn cho rằng, hội nghị là cơ hội để lắng nghe phản ánh từ thực tiễn sản xuất, kinh doanh, nhận diện các nút thắt về tài chính, thuế, tín dụng và đầu tư. Những kiến nghị của doanh nghiệp sẽ là cơ sở phục vụ quá trình nghiên cứu, sửa đổi và hoàn thiện chính sách.
Cần tín dụng xanh và hạ tầng logistics
Ông Trần Quốc Tuấn, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Vĩnh Long cho biết, địa phương đang cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển kinh tế xanh, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung gắn với chế biến và xuất khẩu.
Tỉnh đã hình thành nhiều vùng sản xuất lúa chất lượng cao, cây ăn trái đặc sản, dừa hữu cơ và thủy sản; mở rộng chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ; tăng cường áp dụng VietGAP, GlobalGAP, tiêu chuẩn hữu cơ và truy xuất nguồn gốc.
Diện tích tham gia Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp trên địa bàn tỉnh đạt hơn 8.224 ha, vượt kế hoạch đề ra, tạo nền tảng tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng nông sản bền vững.
Cùng với phát triển vùng nguyên liệu, ngành chế biến chiếm khoảng 20 - 25% giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh. Tỷ lệ cơ giới hóa trong bảo quản, chế biến đạt khoảng 70 - 80%, góp phần giảm tổn thất sau thu hoạch và nâng giá trị sản phẩm.
Tuy nhiên, chi phí logistics, kho lạnh, kiểm định và bảo quản sau thu hoạch vẫn ở mức cao. Doanh nghiệp phải đầu tư lớn để đáp ứng các yêu cầu về sản xuất xanh, giảm phát thải, kinh tế tuần hoàn và truy xuất nguồn gốc nhưng còn thiếu cơ chế hỗ trợ phù hợp.
Vĩnh Long kiến nghị sớm ban hành nghị định thay thế Nghị định số 57/2018/NĐ-CP về khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn theo hướng đơn giản hóa thủ tục, nâng mức hỗ trợ và bố trí nguồn ngân sách Trung ương ổn định.
Tỉnh cũng đề nghị xây dựng cơ chế tín dụng xanh với lãi suất ưu đãi cho doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư vào sản xuất hữu cơ, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải, chế biến sâu và vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Các chính sách tài chính cần ưu tiên huy động nguồn lực phát triển kho lạnh, kho ngoại quan, trung tâm kiểm định, đóng gói và hệ thống logistics. Đồng thời, có chính sách ưu đãi về thuế, khấu hao tài sản, đổi mới công nghệ và chuyển đổi số đối với doanh nghiệp chế biến nông sản.
Trong khuôn khổ hội nghị, hai phiên tọa đàm tập trung nhận diện điểm nghẽn trong xuất khẩu nông sản và đề xuất chính sách tài chính thúc đẩy xuất khẩu bền vững.
Các ý kiến, đề xuất sẽ được ban tổ chức tổng hợp, báo cáo cơ quan có thẩm quyền, phục vụ quá trình hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để doanh nghiệp nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của nông sản trên thị trường quốc tế.