Xuất khẩu nông sản hướng tới mốc 74,3 tỷ USD, dư địa nâng giá trị còn lớn

Xuất khẩu nông sản hướng tới mốc 74,3 tỷ USD, dư địa nâng giá trị còn lớn
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 8 tháng năm 2026 đạt gần 49,3 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ và xuất siêu 14,25 tỷ USD. Với mục tiêu 74,3 tỷ USD cả năm, ngành nông nghiệp đang đứng trước cơ hội mở rộng thị trường, đồng thời chuyển mạnh từ tăng sản lượng sang nâng giá trị trên từng đơn vị sản phẩm.
Xuất khẩu duy trì đà tăng, mục tiêu 74,3 tỷ USD trong tầm hướng tới
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 8 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt gần 49,3 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước, xuất siêu 14,25 tỷ USD.
Trong đó, nông sản đạt 25,66 tỷ USD, tăng 2,7%; thủy sản đạt 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%; lâm sản đạt 12,57 tỷ USD, tăng 5,4%. Một số nhóm ghi nhận tốc độ tăng cao như sản phẩm chăn nuôi tăng 30% và đầu vào sản xuất tăng 64,8%.
Tại họp báo thường kỳ sáng 16/9, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết kết quả 8 tháng là cơ sở để tiếp tục triển khai các giải pháp mở rộng thị trường, tháo gỡ rào cản và nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn của các thị trường nhập khẩu trong những tháng cuối năm.
Theo kịch bản tăng trưởng, 9 tháng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cần tăng 4,05%, quý III khoảng 4,15% và quý IV khoảng 4,2%. Với xuất khẩu, 4 tháng cuối năm cần đạt ít nhất 24 tỷ USD, tương đương bình quân khoảng 6,23 tỷ USD mỗi tháng, để hướng tới mục tiêu kim ngạch xuất khẩu cả năm 74,3 tỷ USD.
Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp cho biết những tháng cuối năm có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thành các mục tiêu tăng trưởng và xuất khẩu. Vì vậy, sản xuất cần tiếp tục bám sát kịch bản tăng trưởng, cụ thể hóa tới từng lĩnh vực, ngành hàng và sản phẩm.
Ở góc độ thị trường, dư địa tăng trưởng vẫn còn khi nhu cầu tại nhiều thị trường lớn tiếp tục mở rộng. Trong 8 tháng, châu Á chiếm 45,5% thị phần xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam. Trung Quốc chiếm 22,7%, tăng 22,1%; Hoa Kỳ chiếm 19,1% và xuất khẩu sang thị trường này giảm nhẹ 0,4%.
Với thủy sản, Trung Quốc chiếm 24% và xuất khẩu sang thị trường này trong 7 tháng tăng 37,1%. Ở lĩnh vực gỗ, dù Hoa Kỳ vẫn chiếm 49,9% kim ngạch nhưng xuất khẩu sang thị trường này giảm 5,8%, trong khi Trung Quốc tăng tới 46,4%.
Những diễn biến này cho thấy thị trường xuất khẩu đang có sự phân hóa rõ nét, đồng thời mở ra dư địa để doanh nghiệp điều chỉnh cơ cấu thị trường, sản phẩm và khách hàng.
Bên cạnh đó, rau quả tiếp tục là điểm sáng. 8 tháng, xuất khẩu rau quả đạt khoảng 6,02 tỷ USD, tăng 24,9%. Trung Quốc chiếm 58,9% kim ngạch rau quả Việt Nam; xuất khẩu sang thị trường này trong 7 tháng tăng 33,1%.
Sầu riêng cũng ghi nhận mức tăng trưởng đáng chú ý. Trong 7 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 1,47 tỷ USD, tăng 44,1%, trong đó Trung Quốc chiếm trên 95%. Từ tháng 7/2026, Ấn Độ chính thức cho phép nhập khẩu sầu riêng tươi Việt Nam, mở thêm dư địa cho mặt hàng này.
Từ tăng sản lượng sang nâng giá trị từng tấn hàng
Dù đà tăng xuất khẩu đang được duy trì, diễn biến của một số mặt hàng cho thấy dư địa lớn nhất trong thời gian tới nằm ở giá trị gia tăng, thay vì chỉ mở rộng sản lượng.
Cà phê là ví dụ rõ nét. Trong 8 tháng, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,3 triệu tấn, tăng 13,1%, nhưng kim ngạch chỉ đạt khoảng 6 tỷ USD, giảm 9,1%. Giá xuất khẩu bình quân giảm 19,7%, xuống khoảng 4.538 USD/tấn.
Gạo cũng chịu áp lực khi lượng xuất khẩu 8 tháng đạt khoảng 6 triệu tấn, giảm 6,3%, trong khi giá trị đạt 2,86 tỷ USD, giảm 11,9%. Giá xuất khẩu bình quân khoảng 480,9 USD/tấn, giảm 6%.
Trong khi đó, cao su cho thấy tác động tích cực của việc cải thiện giá bán. Lượng xuất khẩu giảm 16,1%, còn 936,1 nghìn tấn, nhưng giá trị chỉ giảm 6,2% nhờ giá bình quân tăng 11,9%, lên 1.986 USD/tấn. Chè cũng giảm 10,2% về lượng nhưng giá trị chỉ giảm 2%, do giá bình quân tăng 9,1%.
Sự khác biệt này cho thấy khả năng nâng giá trị trên mỗi đơn vị sản phẩm sẽ ngày càng quan trọng khi giá hàng hóa thế giới biến động. Với cà phê, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào xuất khẩu nhân, dư địa còn nằm ở rang xay, hòa tan, sản phẩm đặc sản và xây dựng thương hiệu.
Theo dự báo của USDA, xuất khẩu cà phê Việt Nam niên vụ 2026/27 đạt khoảng 28,95 triệu bao 60 kg, tăng 2% so với niên vụ trước. Xuất khẩu cà phê rang xay và hòa tan được dự báo tiếp tục tăng, cho thấy xu hướng chuyển dịch sang các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.
Tương tự, câu chuyện của rau quả, đặc biệt là sầu riêng, cho thấy chất lượng, vùng nguyên liệu và khả năng truy xuất đang dần trở thành điều kiện để mở rộng thị trường và cải thiện giá trị xuất khẩu.
Đến ngày 30/8, Việt Nam có 10.252 mã số vùng trồng và 1.841 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu nhiều loại trái cây tươi. Đây là nền tảng quan trọng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các thị trường nhập khẩu.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong 8 tháng đầu năm, kim ngạch nhập khẩu nông, lâm, thủy sản đạt khoảng 35,06 tỷ USD, tăng 8,1%. Nhập khẩu nông sản đạt 22,24 tỷ USD, tăng 11,7%, trong khi nhập khẩu nhóm đầu vào sản xuất giảm 12,9%.
Điều này đặt ra yêu cầu không chỉ gia tăng kim ngạch xuất khẩu mà còn nâng tỷ lệ giá trị được tạo ra trong nước, thông qua chế biến sâu, phát triển thương hiệu, hoàn thiện vùng nguyên liệu và nâng năng lực cung ứng.
Một trong những nhiệm vụ được Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh trong những tháng cuối năm là theo dõi sát diễn biến từng thị trường, ngành hàng; tháo gỡ các rào cản kỹ thuật, đẩy nhanh cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và hoàn thiện yêu cầu về truy xuất nguồn gốc.
Từ ngày 1/1 đến 10/9/2026, Trung Quốc, EU và Trung Đông - Châu Phi đã thông báo 249 biện pháp SPS, trong đó 99 biện pháp đã có hiệu lực. Theo Văn phòng SPS Việt Nam, các yêu cầu được cập nhật tập trung vào giới hạn dư lượng, hoạt chất, kiểm dịch, đăng ký cơ sở và truy xuất nguồn gốc.
Doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất vì vậy được khuyến nghị chủ động cập nhật yêu cầu SPS trước khi tổ chức sản xuất và ký hợp đồng xuất khẩu; kiểm soát chặt vật tư đầu vào, thực hiện đầy đủ nhật ký sản xuất, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát từng lô hàng và chủ động kiểm nghiệm các chỉ tiêu có nguy cơ cao trước khi xuất khẩu.
Nhìn từ kết quả 8 tháng, nền tảng để hướng tới mục tiêu 74,3 tỷ USD đã được hình thành. Thách thức trong chặng đường còn lại không đơn thuần là bán thêm hàng, mà là tận dụng tốt hơn cơ hội thị trường, đáp ứng tiêu chuẩn và nâng giá trị của từng tấn nông sản.
Khi sản lượng không còn là lợi thế duy nhất, chế biến, chất lượng, truy xuất nguồn gốc và thương hiệu sẽ quyết định khả năng tạo thêm giá trị. Đây cũng là hướng đi giúp nông sản Việt Nam giảm phụ thuộc vào biến động giá nguyên liệu, mở rộng thị trường và nâng chất lượng tăng trưởng xuất khẩu trong những năm tới.
07:49 16/09/2026
15:55 15/09/2026