🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Xuất khẩu

5 giải pháp đưa xuất khẩu sầu riêng hướng tới mốc 4 tỷ USD

Cập nhật: congly.vn
5 giải pháp đưa xuất khẩu sầu riêng hướng tới mốc 4 tỷ USD

5 giải pháp đưa xuất khẩu sầu riêng hướng tới mốc 4 tỷ USD

5 giải pháp đưa xuất khẩu sầu riêng hướng tới mốc 4 tỷ USD

Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định 5 nhóm giải pháp trọng tâm, từ mở rộng thị trường, tổ chức lại sản xuất đến chuẩn hóa chất lượng, phát triển logistics và nâng năng lực kiểm nghiệm, nhằm đưa xuất khẩu sầu riêng năm 2026 hướng tới khoảng 4 tỷ USD.

Tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 8/2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết, sầu riêng hiện là một trong những nông sản có giá trị xuất khẩu cao của Việt Nam.

Diện tích sầu riêng cả nước hiện khoảng 200.000 ha, sản lượng khoảng 2,08 triệu tấn. Kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh từ khoảng 177 triệu USD năm 2021 lên 3,85 tỷ USD năm 2025.

Riêng 8 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sầu riêng ước đạt khoảng 1,95 tỷ USD, trong đó thị trường Trung Quốc đạt khoảng 1,85 tỷ USD, chiếm khoảng 95%.

Theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang tiếp tục triển khai các giải pháp để kim ngạch xuất khẩu sầu riêng cả năm ít nhất đạt mức của năm trước và có thể hướng tới khoảng 4 tỷ USD.

Mở thêm thị trường, giảm phụ thuộc vào một đầu ra

Giải pháp đầu tiên được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định là đẩy mạnh xúc tiến thương mại và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.

Bên cạnh duy trì thị trường Trung Quốc, ngành nông nghiệp sẽ tiếp tục thúc đẩy đàm phán, mở rộng thị phần tại các thị trường tiềm năng như Ấn Độ, Australia, New Zealand; đồng thời tăng xuất khẩu sầu riêng đông lạnh và các sản phẩm chế biến.

Đáng chú ý, Ấn Độ đã chính thức cho phép nhập khẩu sầu riêng tươi của Việt Nam. Quy định mới có hiệu lực từ ngày 13/7/2026, bổ sung Việt Nam vào danh sách các quốc gia được phép xuất khẩu sầu riêng tươi sang thị trường này.

Cùng với mở rộng thị trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tăng cường thông tin, phân tích và dự báo để định hướng sản xuất, thu hoạch, tiêu thụ phù hợp với nhu cầu.

Tổ chức lại vùng nguyên liệu, nâng giá trị sau thu hoạch

Nhóm giải pháp thứ hai là tổ chức lại sản xuất, phát triển vùng nguyên liệu bền vững, phù hợp với điều kiện đất đai, nguồn nước và khí hậu.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sự phát triển nhanh của diện tích sầu riêng thời gian qua tại một số nơi chưa gắn chặt với tổ chức chuỗi giá trị. Liên kết từ vùng trồng đến sơ chế, bảo quản, logistics và xuất khẩu còn những hạn chế.

Do đó, thời gian tới sẽ tăng kết nối giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trở lại vùng nguyên liệu; đồng thời phát triển các cơ sở sơ chế, chế biến và bảo quản tại vùng sản xuất tập trung.

Giải pháp thứ ba là chuẩn hóa chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc, gắn với tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số.

Từ ngày 1/7, hệ thống truy xuất nguồn gốc được triển khai, cho phép theo dõi thông tin trong quá trình sản xuất, chăm sóc, thu hoạch và đóng gói. Đây là một trong những công cụ nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các thị trường nhập khẩu.

Cùng với đó, việc cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói tiếp tục được đơn giản hóa. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP ngày 31/7/2026 về đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực này.

Sau quá trình làm việc với phía Trung Quốc, trong tháng 8, Việt Nam được phê duyệt bổ sung 401 mã số vùng trồng và 166 mã số cơ sở đóng gói sầu riêng, tổng cộng 567 mã số mới.

Đầu tư logistics và nâng năng lực kiểm nghiệm

Giải pháp thứ tư là phát triển hạ tầng bảo quản, chế biến và logistics.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường định hướng khuyến khích đầu tư kho lạnh, cơ sở sơ chế, bảo quản và chế biến tại các vùng sản xuất tập trung; đa dạng hóa sản phẩm và phương thức vận chuyển, ứng dụng công nghệ nhằm giảm chi phí và hạn chế thất thoát sau thu hoạch.

Đây cũng là điều kiện để ngành sầu riêng giảm áp lực tiêu thụ quả tươi trong thời gian ngắn, đồng thời tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến và nâng giá trị xuất khẩu.

Giải pháp cuối cùng là mở rộng, củng cố và nâng cao năng lực hệ thống phòng kiểm nghiệm, nhất là đối với các chỉ tiêu như cadimi, vàng O và các yêu cầu về an toàn thực phẩm của thị trường nhập khẩu.

Theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, Trung Quốc đã chấp thuận 52 phòng kiểm nghiệm của Việt Nam đáp ứng yêu cầu phục vụ xuất khẩu. Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục làm việc với các cơ quan liên quan để mở rộng hệ thống này.

Trong bối cảnh cạnh tranh từ Thái Lan, Malaysia và các quốc gia sản xuất sầu riêng trong khu vực ngày càng lớn, việc hướng tới mốc 4 tỷ USD không chỉ phụ thuộc vào sản lượng. Khả năng mở rộng thị trường, kiểm soát chất lượng, giảm thất thoát sau thu hoạch và nâng giá trị sản phẩm được xác định là những yếu tố then chốt đối với xuất khẩu sầu riêng Việt Nam trong thời gian tới.