🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Chăn nuôi

8 đề xuất để khoa học công nghệ thành động lực của ngành chăn nuôi

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
8 đề xuất để khoa học công nghệ thành động lực của ngành chăn nuôi

Chủ tịch Tập đoàn DABACO Việt Nam Nguyễn Như So nêu 8 đề xuất để khoa học công nghệ thành động lực của ngành chăn nuôi.

Mô hình 3F+ của Dabaco

Theo ông Nguyễn Như So, Chủ tịch Tập đoàn Dabaco Việt Nam, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của ngành chăn nuôi. Trong 30 năm phát triển, Tập đoàn Dabaco Việt Nam luôn gắn nghiên cứu với yêu cầu sản xuất, lấy hiệu quả ứng dụng khoa học công nghệ làm thước đo cho đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Dabaco đã xây dựng và phát triển một chuỗi giá trị 3F+ (Feed - Farm - Food - Future) khép kín từ thức ăn chăn nuôi, con giống, chăn nuôi đến chế biến thực phẩm và các lĩnh vực bổ trợ, với 60 đơn vị sản xuất, kinh doanh trải dài từ Bắc vào Nam. Năm 2026, Tập đoàn có tổng tài sản trên 18.000 tỷ đồng, vốn điều lệ 4.310 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu trên 8.000 tỷ đồng. Năm 2024, Tập đoàn đã cán mốc doanh thu 1 tỷ USD, tương đương trên 25.000 tỷ đồng, đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt 1,5 tỷ USD, tương đương 38.000 - 40.000 tỷ đồng.

Tập đoàn có 5 sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam, gồm Thức ăn chăn nuôi cao cấp Dabaco, Lợn Dabaco, Gà Dabaco, Trứng gà Dabaco và Dầu đậu nành Coba. Những kết quả này có sự đóng góp quan trọng của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, tạo nền tảng nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của Tập đoàn.

Về chăn nuôi lợn, Dabaco có quy mô đàn lợn nái khoảng 80.000 con, năng suất bình quân đạt 30,5 con cai sữa/nái/năm; đơn vị xuất sắc nhất đạt 35 con. Tập đoàn chú trọng ứng dụng công nghệ trong chọn lọc, đánh giá giá trị di truyền nhằm cải thiện năng suất sinh sản, khả năng sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn; đồng thời duy trì, phát triển đàn giống hạt nhân thuộc các giống lợn cao sản như Duroc, Landrace, Yorkshire và Pietrain, một số giống lợn đặc sản bản địa phục vụ sản xuất lợn giống và lợn thương phẩm.

Gia cầm, Dabaco có đàn gà bố mẹ khoảng 700.000 con, năng lực cung ứng khoảng 60 triệu con giống/năm. Tập đoàn tự thực hiện nghiên cứu, chọn tạo các giống gà lông màu phù hợp với điều kiện chăn nuôi trong nước, tiêu biểu như Mía số 1 Dabaco, J số 1 Dabaco, Gà siêu trứng D310…; đồng thời ứng dụng công nghệ di truyền và dinh dưỡng để nâng cao năng suất, chất lượng con giống.

Trong chăn nuôi, Dabaco áp dụng quy trình an toàn sinh học, quản lý đàn và theo dõi các điều kiện môi trường nhằm phát hiện sớm bất thường, rủi ro dịch bệnh. Tập đoàn cũng đầu tư nhà máy vaccine DACOVET với công suất thiết kế 200 triệu liều/năm và trong thời gian tới đầu tư Viện nghiên cứu và Nhà máy vắc xin qui mô khoảng 2 tỷ liều/năm, thể hiện định hướng phát triển năng lực nghiên cứu và sản xuất vaccine thú y, nâng cao tính chủ động trong phòng, chống dịch bệnh.

Đề xuất cơ chế hỗ trợ đặc thù cho doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo chuỗi khép kín

Từ thực tiễn sản xuất và những khó khăn, vướng mắc của ngành chăn nuôi, ông Nguyễn Như So đề xuất 7 nội dung để khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực nâng cao năng suất, giảm giá thành và sức cạnh tranh của ngành chăn nuôi.

Thứ nhất, cần hoàn thiện chính sách và cơ chế hỗ trợ đặc thù đối với doanh nghiệp đầu tư chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao theo chuỗi khép kín.

Từ thực tiễn triển khai mô hình 3F+, Dabaco đề nghị Nhà nước bảo đảm tính ổn định, liên tục của chính sách công nhận và ưu đãi đối với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao; đồng thời, có cơ chế hỗ trợ phù hợp với các dự án đầu tư lớn, đồng bộ từ nghiên cứu, phát triển giống, sản xuất vaccine, chăn nuôi an toàn sinh học đến chế biến, truy xuất nguồn gốc và xử lý chất thải. Chính sách cần tập trung vào tín dụng dài hạn, ưu đãi thuế, tiền thuê đất và hỗ trợ nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ, gắn với quy mô đầu tư, hiệu quả ứng dụng công nghệ và đóng góp vào năng lực tự chủ của ngành chăn nuôi.

Thứ hai là, hỗ trợ cơ chế đặc thù công nhận các dòng, giống vật nuôi do doanh nghiệp nghiên cứu, chọn tạo.** **Tập đoàn đang nghiên cứu, chọn tạo các dòng, giống lợn, gà trên cơ sở đáp ứng đầy đủ các điều kiện, tiêu chí theo quy định. Việc sớm hoàn thành thủ tục công nhận sẽ tạo điều kiện đưa các kết quả nghiên cứu vào sản xuất, bảo đảm tài sản sở hữu trí tuệ, phát huy hiệu quả nguồn lực đầu tư cho khoa học và công nghệ, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp tiếp tục đầu tư chọn tạo giống trong nước, giảm phụ thuộc vào nguồn giống nhập khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành chăn nuôi Việt Nam.

Thứ ba, nghiên cứu cơ chế điều tiết tổng đàn và năng lực sản xuất chăn nuôi phù hợp với cung - cầu thị trường. Năm 2025, nhu cầu thịt lợn của Việt Nam khoảng 4 triệu tấn, trong khi sản lượng trong nước đạt 3,94 triệu tấn, chưa tính thịt nhập khẩu. Tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm 2026, đàn lợn vẫn tăng 2,2%, sản lượng thịt lợn hơi tăng 4,8% so với cùng kỳ, tiềm ẩn nguy cơ dư cung. Kinh nghiệm Trung Quốc cho thấy cần chủ động điều tiết tổng đàn lợn nái, kiểm soát công suất khi vượt ngưỡng.

Đại diện Dabaco đề nghị bổ sung nguyên tắc điều phối tổng đàn và năng lực sản xuất theo ngành hàng, vùng và thời kỳ; đẩy mạnh số hóa dữ liệu sống phục vụ công tác quản lý, điều chỉnh cung - cầu trên phạm vi toàn quốc vào các quy định luật về chăn nuôi; giao Chính phủ căn cứ cung - cầu để quy định chỉ tiêu phát triển đàn, kiểm soát việc tăng công suất, xây mới, mở rộng trang trại quy mô lớn và áp dụng hạn ngạch có thời hạn khi cần thiết.

*Bốn là *kiểm soát nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi, bảo vệ năng lực sản xuất trong nước. Ông So đề nghị rà soát chính sách nhập khẩu, áp dụng hiệu quả các biện pháp kỹ thuật phù hợp với cam kết quốc tế; tăng cường kiểm dịch, kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc; xử lý nghiêm tình trạng nhập lậu, gian lận thương mại, qua đó bảo đảm cạnh tranh công bằng và tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi trong nước phát triển bền vững.

*Năm là, *rà soát quy chuẩn môi trường đối với nước thải chăn nuôi, bảo đảm tính khả thi và có lộ trình thực hiện phù hợp. Bộ Nông nghiệp và Môi trường rà soát, điều chỉnh quy chuẩn kỹ thuật này về giới hạn Nitơ tổng số phù hợp với công nghệ, điều kiện sản xuất và khả năng chi trả của ngành; quy định lộ trình chuyển tiếp hợp lý, đồng thời phân loại yêu cầu xả thải theo quy mô, công nghệ và mức độ rủi ro môi trường của từng cơ sở.

Sáu là, phát triển nguồn nguyên liệu trong nước, giảm phụ thuộc nhập khẩu. Ngành thức ăn chăn nuôi và dầu thực vật phụ thuộc rất vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, đặc biệt là ngô, đậu tương, khô dầu đậu tương và các loại hạt có dầu (khoảng trên 70%). Sự phụ thuộc này khiến doanh nghiệp dễ bị tác động bởi biến động giá cả và nguồn cung quốc tế, trong khi cơ chế hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu trong nước chưa đủ mạnh. Do đó, Nhà nước cần đẩy mạnh nghiên cứu, chọn tạo giống, phát triển vùng nguyên liệu tập trung, ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất và chế biến; đồng thời khuyến khích doanh nghiệp liên kết đầu tư vùng trồng, sử dụng chất thải chăn nuôi, giảm thiểu việc sử dụng hóa chất vào nước, bảo vệ môi trường, từng bước nâng cao khả năng tự chủ nguyên liệu, giảm phụ thuộc nhập khẩu và bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng.

Bảy là, đẩy mạnh đầu tư chế biến sâu thịt lợn theo chuỗi giá trị khép kín, gắn phát triển chế biến sâu với hệ thống giết mổ tập trung, kho lạnh và logistics lạnh đạt chuẩn quốc tế để nâng cao năng lực bảo quản, điều tiết cung - cầu theo mùa vụ. Đồng thời, chuẩn hóa truy xuất nguồn gốc toàn chuỗi, từ chăn nuôi, thức ăn, giết mổ đến phân phối, đáp ứng yêu cầu an toàn thực phẩm, kiểm dịch và tiêu chuẩn nhập khẩu. Phát triển các vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh đạt chuẩn xuất khẩu, mở rộng đầu ra, giảm áp lực dư cung trong nước và nâng cao giá trị gia tăng toàn ngành.

Tám là, về vấn đề dịch tả lợn Châu Phi: các cơ quan quản lý chuyên ngành cần rà soát, đổi mới cách tiếp cận, chính sách phòng, chống dịch tả lợn châu Phi (ASF) và xử lý tình huống theo hướng khoa học, linh hoạt, dựa trên bằng chứng dịch tễ và phù hợp thực tiễn chăn nuôi tại Việt Nam. Phải coi an toàn sinh học, vệ sinh thú y, kiểm soát người và phương tiện ra vào trại, nâng cao sức khỏe đàn vật nuôi và phòng bệnh chủ động là giải pháp nền tảng. Khi phát hiện dịch, cần tăng cường xét nghiệm, truy vết, khoanh vùng và đánh giá nguy cơ để xử lý theo đơn vị dịch tễ phù hợp, tránh tiêu hủy tràn lan.

Không nên coi AFS là bênh truyền nhiễm nguy hiểm trên người, không lây cho vật nuôi khác lợn. Việc một con lợn khoẻ mạnh mang AFS trong thực tế hiện nay là hết sức bình thường (thậm chí xét nghiệm trên người có tiếp xúc cũng có thể cho kết quả dương tính). Do đó, khi phát hiện động vật dương tính với ASF cần có những quy định pháp luật xử lý phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm, tránh gây hoang mang cho người chăn nuôi lợn. Nghiên cứu sửa Luật theo hướng cho phép tái chế lợn nhiễm ASF làm thức ăn chăn nuôi cho loại động vật khác vừa giảm rủi ro nhiễm chéo, vừa giảm ô nhiễm môi trường, vì nguồn đất để chôn vật nuôi không phải chỗ nào cũng thuận lợi, hơn nữa đây cũng là nguyên nhân phát tán virus từ nguồn nước sau khi chôn lấp. Chúng ta cần tham khảo kinh nghiệm quốc tế, cập nhật nghiên cứu vắc xin để có biện pháp phòng bệnh hiệu quả hơn. Từ đó cần hoàn thiện cơ chế hỗ trợ và truyền thông minh bạch, nhằm kiểm soát dịch hiệu quả, tránh gây hoang mang dư luận xã hội, giảm thiểu thiệt hại, bảo vệ sinh kế cho người chăn nuôi và nguồn lực của xã hội.

"Dabaco sẽ tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, đồng hành cùng Nhà nước và các tổ chức khoa học phát triển ngành chăn nuôi Việt Nam hiện đại, hiệu quả và bền vững", ông So nhấn mạnh.

Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook

Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.

Theo dõi fanpage