An ninh nguồn nước ĐBSCL: [Bài 3] Biến những dòng sông thành 'siêu hồ chứa'
![An ninh nguồn nước ĐBSCL: [Bài 3] Biến những dòng sông thành 'siêu hồ chứa'](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/800w/files/phucpm/2026/05/29/0712-t10nr-150406_121.jpg)
Tạo hồ chứa nước ngọt bằng công trình kiểm soát nguồn nước tại 7 cửa sông là giải pháp đột phá cho an ninh nguồn nước ĐBSCL trong tương lai.
Luận bàn về nguyên tắc "thuận thiên"
Hiện nay, chiến lược ứng phó với mất an ninh nguồn nước ở ĐBSCL được thực hiện theo tinh thần Nghị quyết 120/NQ-CP năm 2017 của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu, chủ yếu theo nguyên tắc "thuận thiên".
Cụ thể, nơi có nước ngọt thì trồng lúa và cây ăn trái; nơi có nước mặn thì nuôi trồng thủy sản; vùng chuyển tiếp thì luân canh lúa - tôm. Cách tiếp cận này có ưu điểm tận dụng được lợi thế tự nhiên và đã giúp một số tỉnh chuyển đổi cơ cấu sản xuất hiệu quả.
Về trữ nước phân tán hộ gia đình, các hộ dân được khuyến khích trữ nước mưa trên mái, hầm dưới nền nhà và ao trong vườn. Nếu được nhân rộng đầy đủ, giải pháp này có thể giải quyết cơ bản nhu cầu nước sinh hoạt và tưới vườn cây.
Một vài địa phương đã xây các hồ chứa nước ngọt quy mô hàng trăm ha (như hồ Kênh Lấp 1 triệu m³ ở Vĩnh Long để dự trữ nước chống hạn). Bên cạnh đó, hàng trăm cống ngăn mặn giữ ngọt đã được xây dựng trong những năm qua, đặc biệt là siêu cống Cái Lớn - Cái Bé (Kiên Giang cũ, nay thuộc An Giang) hoàn thành 2022 với tổng vốn hơn 3.300 tỷ đồng, kiểm soát nguồn nước cho 384.120 ha.
Tinh thần "thuận thiên" là đúng đắn về triết lý nhưng không có nghĩa là thụ động. Nguyên Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Minh Hoan đã từng nhấn mạnh: "Thuận thiên không có nghĩa là phó mặc cho tự nhiên mà phải có những giải pháp để thích ứng".
Tuy nhiên, đánh giá khách quan cho thấy giải pháp hiện nay tồn tại nhiều giới hạn căn bản: Thứ nhất, trữ nước phân tán hộ gia đình chỉ giải quyết được nước sinh hoạt và tưới vườn cây quy mô nhỏ, chưa thể đáp ứng nhu cầu nước cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản quy mô lớn (khoảng 38-40 tỷ m³/năm) và công nghiệp.
Thứ hai, việc xây dựng hồ chứa nổi hoặc hồ đào sẽ làm mất quỹ đất nông nghiệp vốn rất quý hiếm đối với một quốc gia có mật độ dân cư cao như Việt Nam, mà lượng nước tích được không đáng kể (hồ Kênh Lấp chỉ 1 triệu m³, không đủ cho một xã trong một tháng); chưa kể chính các hồ này cũng bị nhiễm mặn trong đợt 2019-2020 - bộc lộ rõ giới hạn của giải pháp cục bộ.
Thứ ba, hệ thống cống thủy lợi nội đồng và đặc biệt cống Cái Lớn - Cái Bé đã đóng góp đáng kể vào việc giảm thiệt hại đợt 2023-2024 (cần lưu ý rằng đợt này có cường độ El Niño thấp hơn 2015-2016 và năng lực cảnh báo sớm tốt hơn). Tuy nhiên, hiệu quả vẫn chỉ là cục bộ trong từng vùng được bảo vệ trực tiếp, không thể giải quyết tận gốc bài toán an ninh nguồn nước cho toàn vùng. Mặn vẫn xâm nhập sâu vào lòng các sông Tiền, Hậu, Hàm Luông, Cổ Chiên/Cung Hầu - biến hàng tỷ m³ nước ngọt thành nước mặn lợ không thể sử dụng.
Biến sông thành kênh - giải pháp đột phá
Từ phân tích các nguyên nhân và giới hạn của giải pháp hiện hành, tác giả bài báo đề xuất một trụ cột cốt lõi cho an ninh nguồn nước ĐBSCL, bổ sung và làm chỗ dựa cho các giải pháp mềm theo Nghị quyết 120 trong những năm cực đoan: xây dựng hệ thống công trình kiểm soát nguồn nước (CTKSNN) tại các cửa sông ra biển (Cửa Tiểu, Cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên/Cung Hầu, Định An, Trần Đề - trong đó vị trí Cổ Chiên/Cung Hầu bao gồm 2 cửa biển liền kề thuộc cùng nhánh sông Cổ Chiên của sông Tiền, được kiểm soát bằng cụm công trình song song), vận hành phân loại theo chức năng của từng cửa.
Hệ thống này thực hiện đồng thời ba nhiệm vụ chiến lược: chống nước dâng do bão biển và nước biển dâng cho toàn vùng tại tất cả các cửa; tăng dung tích trữ nước ngọt khả dụng mùa khô trong hệ thống sông kênh phía trong các cửa; ngọt hóa triệt để các tiểu vùng nông nghiệp trọng điểm phía trong những cửa đảm nhận chức năng kiểm soát mặn chuyên dụng.
Đây là cách tiếp cận khác biệt với mô hình "cống nội đồng" truyền thống, triết lý chuyển từ phòng thủ cục bộ sang chủ động kiểm soát tại cửa sông, đồng thời chuyển từ tư duy "đóng kín ngọt hóa" sang tư duy "phân loại theo chức năng".
Giải pháp này có sáu ưu điểm nổi bật, có tính bù trừ cho nhau và tạo nên hiệu quả tổng hợp: Thứ nhất là không mất đất xây dựng hồ chứa. Lòng hồ là chính các sông tự nhiên đã có lịch sử tồn tại - sông Tiền, sông Hậu cùng các nhánh chính và hàng vạn km kênh rạch nội đồng. Ước tính sơ bộ dung tích trữ nước ngọt khả dụng có thể đạt 20-30 tỷ m³. Tại Việt Nam, quốc gia có quỹ đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, đây là ưu thế đặc biệt quan trọng
Thứ hai, giải pháp này tiết kiệm chi phí và công sức xây dựng. Không cần đắp đập làm hồ nổi (mất đất, vốn lớn và dung tích thấp), không cần đào sâu để làm hồ chìm như một số địa phương đã làm nhưng cho khối lượng nước không đáng kể. Toàn bộ hệ thống lòng sông tự nhiên được tận dụng làm lòng hồ, chỉ cần đầu tư các công trình kiểm soát tại các cửa ra biển.
Thứ ba, ngăn mặn không xâm nhập được vào nội địa. Cơ chế ngăn mặn được thực hiện linh hoạt theo chế độ vận hành của từng cửa. Tại các cửa đảm nhận chức năng kiểm soát mặn chuyên dụng, cửa van đóng trong những giờ triều mặn và mở khi triều xuống, giữ khối nước ngọt thượng nguồn ổn định cho các tiểu vùng phía trong. Tại các cửa có chức năng đa nhiệm, cửa van chỉ đóng trong các đợt xâm nhập mặn cao điểm mùa khô (thường tập trung tháng 3-5). Tại các cửa chuyên dụng phòng thủ nước dâng do bão, cửa van mở >95% thời gian và chỉ đóng khi có bão hoặc triều cường cực đoan, theo nguyên lý "mở - thường, đóng - khi cần". Cách phân loại này giúp cân bằng giữa mục tiêu kiểm soát mặn, duy trì giao thông thủy, và bảo toàn vận chuyển phù sa cùng năng lượng thủy động của hệ thống. Đây cũng là điểm khác biệt căn bản với cống đập Ba Lai, vốn đóng kín và đã gây ra hệ lụy bồi lắng, tù đọng.
Thứ tư, chất lượng nước trong hồ được đảm bảo tốt. Khối nước trong hồ - sông được thường xuyên cấp mới từ thượng nguồn (cả mùa khô vẫn có 5-10 tỷ m³ chảy qua mỗi tháng (ước tính từ dòng chảy mùa kiệt khoảng 47 tỷ m³/7 tháng). Qua mỗi mùa mưa, toàn bộ khối nước trong hồ được thay mới hoàn toàn nhờ lũ tràn về và được xả ra biển. Cơ chế "lưu thông tự làm sạch" này khắc phục tốt hơn vấn đề ô nhiễm, vốn là điểm yếu của các hồ chứa nhân tạo.
Thứ năm, mùa lũ tự động tháo lũ - không cản trở dòng chảy tự nhiên. Đây là điểm cốt lõi về mặt kỹ thuật: thiết kế CTKSNN theo công nghệ đập trụ đỡ và đập hộp chìm, hay đập tàu thủy cho phép tiết diện thoát qua công trình gần bằng tiết diện lòng sông tự nhiên. Nhờ đó, khi lũ về, các cửa van được mở hoàn toàn, dòng chảy đi qua như chưa từng có công trình. Đây là điểm quyết định để giải pháp này không tạo ra hệ lụy như dự án ngăn sông Ba Lai.
Và thứ sáu là lợi ích đa chức năng và tích hợp. CTKSNN tại các cửa sông, là loại kết cấu thích hợp để làm các cầu hiện đại, của con đường giao thông ven biển, có đủ cao trình, để kết hợp làm nhiệm vụ đê biển ngăn nước biển dâng không gây ngập lụt vào đất liền; đồng thời kết hợp làm các cảng biển nước sâu (như Trần Đề); xa hơn có thể làm trạm điện thủy triều, như trạm Sihwa Hàn Quốc đạt 254 MW. Ngoài ra, kết hợp với phục hồi rừng ngập mặn và bãi triều (theo nguyên lý xây dựng cùng tự nhiên). Tổng giá trị kinh tế gián tiếp do tính chất đa chức năng và tích hợp đưa lại cho quốc gia cũng rất lớn.