An ninh nguồn nước ĐBSCL: [Bài 4] Kinh nghiệm ‘biến sông thành hồ nước ngọt’
![An ninh nguồn nước ĐBSCL: [Bài 4] Kinh nghiệm ‘biến sông thành hồ nước ngọt’](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/800w/files/phucpm/2026/06/01/0751-image-20240917183843-1-085115_770.jpeg)
Mô hình ‘biến hệ thống sông kênh thành hồ chứa nước ngọt tự nhiên thông qua công trình tại cửa sông' không phải là ý tưởng mới mẻ trong thực tiễn quốc tế.
Kinh nghiệm của Hà Lan, Anh, Hàn Quốc, Nga
Nhiều quốc gia có địa hình đồng bằng thấp tương tự ĐBSCL đã triển khai mô hình này từ thập niên 1950-1980 và thu được kết quả vượt trội. Phần này của bài báo giới thiệu và phân tích tổng hợp một số dự án tiêu biểu trên thế giới có thể được tham khảo.
Hà Lan - Delta Works (1953-1997): sau thảm họa lũ Bắc Hải 1953 cướp đi 1.836 mạng người, Hà Lan đã đầu tư khoảng 13 tỷ USD (giá năm 2012) để xây dựng hệ thống 13 đập và barrier khổng lồ - bao gồm Oosterscheldekering (đập chống nước dâng do bão dài 9 km, 65 trụ, 62 cửa van), Maeslantkering (cánh xoay nổi cho cảng Rotterdam), Haringvlietdam (đập kiểm soát dòng Rhine - Meuse).
Toàn bộ hệ thống đã biến vùng tây nam Hà Lan trở thành khu vực đồng bằng được bảo vệ tốt nhất thế giới với tiêu chuẩn lũ 1/4.000 - 1/10.000 năm, trong khi vẫn duy trì hệ sinh thái nước mặn của vịnh Oosterschelde (được công nhận là vườn quốc gia lớn nhất Hà Lan năm 2002). Tuy nhiên, Oosterscheldekering cũng gây ra hiện tượng "đói cát" - giảm năng lượng triều dẫn tới mất bãi triều khoảng 50 cm/thế kỷ; Hà Lan hiện đang phải triển khai chương trình bơm cát bù để cứu hệ sinh thái bãi triều. Đây là bài học trực tiếp cho ĐBSCL: các công trình ngăn sông chống nước dâng do bão cần được tích hợp ngay từ thiết kế với chương trình quản lý phù sa và bù cát ven biển.
Anh - Thames Barrier (1984): bảo vệ trung tâm London với 1,4 triệu dân và 420.000 bất động sản trị giá 321 tỷ GBP. Công trình dài 520m với 10 cửa van cung trục đứng đã đóng 221 lần đến tháng 11/2025, minh chứng tần suất kích hoạt ngày càng tăng do biến đổi khí hậu, và giá trị bảo vệ ngày càng lớn so với chi phí đầu tư ban đầu (535 triệu GBP, ~2,4 tỷ GBP giá hiện tại). Đồng thời, tần suất đóng tăng từ 4 lần/năm thập niên 1980 lên 6 - 7 lần/năm hiện nay đã buộc Anh phải nghiên cứu phương án nâng cấp/thay thế Thames Barrier sau năm 2070. Đây là minh chứng rằng hệ thống hạ tầng phòng thủ thiên tai dài hạn luôn cần lộ trình nâng cấp gắn với kịch bản nước biển dâng được cập nhật.
Hàn Quốc - Saemangeum Seawall (1991-2010): đê biển dài 33,9 km - dài nhất thế giới - đã biến vùng cửa sông Mangyeong và Dongjin thành hồ chứa nước ngọt 11.800 ha và đất cải tạo 28.300 ha. Saemangeum cũng là bài học cảnh báo quan trọng, khi chất lượng nước hồ phía trong xấu đi nghiêm trọng sau khi đóng kín đê (tảo độc, thiếu oxy đáy, giảm đa dạng sinh học), buộc Hàn Quốc phải mở thêm cửa cống điều tiết và điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất ban đầu. Đây là minh chứng trực tiếp rằng các cửa vận hành ở chế độ chống xâm nhập mặn chuyên dụng, ĐBSCL cần đi kèm chương trình giám sát và can thiệp chất lượng nước.
Nga - Saint Petersburg Dam (1979-2011): đập dài 25,4 km bảo vệ Saint Petersburg khỏi triều cường của vịnh Phần Lan, kết hợp với đường cao tốc 6 làn. Từ khi đi vào vận hành đã đóng hơn 20 lần ngăn triều cường lớn từ vịnh Phần Lan, duy trì không để xảy ra lụt đô thị do nước biển dâng đến nay. Dự án này là minh chứng cho khả năng tích hợp đa chức năng (chống lũ, giao thông và phát triển đô thị). Đồng thời, công trình cũng làm xấu chất lượng nước vịnh Neva phía trong (thiếu oxy tầng đáy về mùa hè) do giảm trao đổi nước với vịnh Phần Lan. Đây là bài học về việc cần tính toán đầy đủ cơ chế lưu thông nước ngay từ giai đoạn quy hoạch.
Từ các mô hình quốc tế, có thể rút ra một số kinh nghiệm chung: các quốc gia thành công đều đầu tư từ 1-3% GDP cho hạ tầng kiểm soát nước trong giai đoạn xây dựng cốt lõi; đầu tư một lần lớn đem lại lợi ích bền vững 50 - 100 năm; công trình thiết kế theo nguyên lý "mở - thường, đóng - khi cần" bảo tồn được hệ sinh thái phía ngoài; tích hợp với giao thông và phát triển đô thị.
Có thể thấy, dự án Oosterschelde cần bù cát chống đói cát gây xói lở, dự án Saemangeum và Saint Petersburg phải xử lý chất lượng nước phía trong, dự án Thames cần lộ trình nâng cấp dài hạn, và các sự đánh đổi này đều được phát hiện và xử lý hiệu quả khi công trình đi kèm chương trình giám sát - vận hành thông minh. Việt Nam hoàn toàn có thể áp dụng những bài học này, cả thành công và những điểm cần xử lý cho vùng ĐBSCL với chi phí và quy mô phù hợp.
Xác định vị trí các công trình kiểm soát nguồn nước
Tại ĐBSCL, việc lựa chọn vị trí xây dựng công trình kiểm soát nguồn nước (CTKSNN) cần tuân thủ ba nguyên tắc, nhằm tối đa hóa lợi ích và giảm thiểu tác động:
Nguyên tắc 1 - theo quy hoạch sử dụng đất: công trình được đặt tại vị trí phân cách giữa vùng đất nuôi trồng thủy sản (cần nước mặn/lợ) và vùng đất trồng lúa, cây ăn trái (cần nước ngọt). Cách bố trí này đảm bảo phía trong CTKSNN là vùng được bảo vệ ngọt hóa, phía ngoài duy trì chế độ mặn - lợ tự nhiên cho thủy sản. Thực tế, nhiều cửa sông ĐBSCL đều có ranh giới sinh thái rõ ràng cách cửa biển 5-15 km, có thể là các vị trí tốt để đặt công trình.
Nguyên tắc 2 - kết hợp với quy hoạch giao thông: công trình được thiết kế đồng bộ với cầu giao thông, vừa kiểm soát nguồn nước, vừa rút ngắn các tuyến đường ven biển vốn phải đi vòng qua các cửa sông rộng 2-5 km. Đây là cách tiếp cận đã được áp dụng thành công tại các công trình quốc tế. Riêng cửa Trần Đề có thể tích hợp với cảng biển nước sâu Trần Đề để tạo công trình đa chức năng có quy mô khu vực.
Nguyên tắc 3 - bảo đảm điều kiện thủy lực và môi trường: công trình phải đặt ở vị trí phù hợp với dòng chảy tự nhiên, không phụ thuộc vào địa chất, nhờ công nghệ đập trụ đỡ giải quyết được, có khả năng kết hợp với phục hồi rừng ngập mặn và bãi triều phía ngoài. Đặc biệt phải có đầy đủ âu tàu, đảm bảo tàu thuyền hoạt động bình thường và thang cá/âu cá, đảm bảo di cư của các loài thủy sinh.
Vận dụng các nguyên tắc trên, kết hợp với phân loại ba chế độ vận hành (chống bão biển dâng - đa nhiệm - ngăn mặn chuyên dụng) và phổ năng lực của ba công nghệ đập (đập trụ đỡ đã chứng minh; đập hộp chìm và đập tàu thủy là công nghệ mới đang được nghiên cứu trong nước), các CTKSNN được sơ bộ đề xuất bố trí tại các cửa sông Cửa Tiểu, Cửa Đại, Ba Lai, Làm Luông, Cổ Chiên/Cung Hầu, Định An, Trần Đề.
Cần lưu ý rằng một chương trình hạ tầng quy mô 5-10 tỷ USD không thể triển khai đồng loạt, vừa vì áp lực ngân sách (đỉnh chi đầu tư có thể vượt 0,5% GDP/năm nếu xây cùng lúc), vừa vì rủi ro kỹ thuật do hai trong ba công nghệ chủ đạo - đập hộp chìm và đập tàu thủy - chưa có công trình thực địa nào tại Việt Nam.
Theo nguyên tắc kỹ thuật cơ bản, hai công nghệ mới này bắt buộc phải qua giai đoạn nghiên cứu trên mô hình vật lý - thủy lực và xây dựng mô hình thử nghiệm quy mô vài chục đến vài trăm mét tại các kênh - cống ngoài hệ thống 7 cửa sông chính (gợi ý các vị trí thử nghiệm tiềm năng: nhánh phụ vùng bán đảo Cà Mau, kênh nội đồng sâu Đồng Tháp Mười, hoặc các tuyến kênh cấp 1-2 đã được nạo vét sâu) trước khi có thể áp dụng ở thực địa quy mô vùng.
Lộ trình hợp lý là chia thành ba pha kéo dài khoảng 25 năm theo nguyên tắc "từ nhỏ đến lớn, từ đã chứng minh đến công nghệ mới".